Poem logo
Poem logo

a di đà không có trong phật giáo nguyên thủy theravada

Tác giả: Kossom
VÀI LỜI GỞI RIÊNG CHO MỘT SỐ VỊ SƯ TU NAM TÔNG

Sabbapapassa akaranam
Kusalassa upasampada
Sacitta pariyodapanam
Etam Buddhana Sasanam

Every evil never doing
and in wholesomeness increasing
and one's heart well-purifying:
this is the Buddhas' Sasana

Không làm các điều ác
Gắng làm các việc lành
Luôn tu tâm, tịnh ý:
Đó là lời Phật dạy.

HÃY NIỆM "NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT" VÀ TU HÀNH THEO ĐÚNG TỨ DIỆU ĐẾ - BÁT CHÁNH ĐẠO

Nếu niệm “Nam Mô A di đà phật” đem lại nhiều lợi lạc, phước báu vô lượng, được vô lượng thọ, vô lượng công đức… rồi được tái sanh cảnh giới Tây Phương Cực Lạc thì tại sao Đức Phật dạy cho dòng họ Thích Ca niệm A di đà phật để được hưởng phước báu, công đức… rồi được tái sanh về Tây phương cực lạc hưởng kiếp sống an nhàn? Chứ Phật phải bảo chúng đệ tử tu hành sống Ba y một Bát, đi xin ăn rồi chỉ ăn một ngày một lần, không an ngủ phi thời, không nhà cửa, không gia đình, không tài sản, tu hành thiền định-quán-tuệ, ly dục ly ác pháp... để làm gì?

Khi dòng họ Thích Ca bị vua Tỳ Lưu Ly đem quân tới sát hại cả dòng họ, vậy tại sao Đức Phật không ngăn cản được? Khi biết như vậy tại sao Đức Phật không khuyên bảo dòng họ niệm A di đà phật để cho phật A di đà và bồ tát Quán Âm cùng thánh chúng hiện ra để cứu vớt gia tộc Thích Ca của Đức Phật đưa về Tây Phương Cực lạc?

Thời Phật Thích Ca còn tại thế thì đã có cõi Tây Phương Cực Lạc và phật A di đà, bồ tát Quán Âm, Thế Chí, Phổ Hiền, Địa Tạng, Dược Sư và thánh chúng chưa? Nếu có rồi sao họ không tới trợ giúp cho đức Phật và nếu có thì tại sao không thấy một vị thánh tăng nào của Đức Phật ghi chép lại vậy?
Nếu thời đức Phật còn tại thế mà chưa có những vị này, vậy tại sao các vị ấy lại được biết tới như hiện nay? Vậy các vị ấy xuất hiện vào năm nào, ở đâu? Ai biết mà ghi chép lại lịch sử tồn tại của các vị này?

Phật giáo không đặt nặng ở niềm tin mà là sự hiểu biết và thực hành.

Người Phật tử khác với các tôn giáo khác ở chỗ đi từ hoài nghi => tìm hiểu => thực hành=> tự mình kiểm chứng là đúng => giác ngộ => Niềm Tin ---> CHÁNH TÍN.

HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ LÒNG TIN MÙ OÁN ---> MÊ TÍN DỊ ĐOAN, CẦU XIN THA LỰC BAN PHƯỚC CỨU KHỔ.


Tôi đã chứng kiến các Sư Nam tông - Phật tử Nam tông (THERAVADA) đi chùa Nam tông cả đời mà niệm A di đà - thờ quan âm. Không biết đi chùa họ có được học giáo lý đạo Phật hay không? Hay thấy người niệm rồi bắt chước niệm theo?


Lưu ý: Bài này tôi chỉ viết cho các vị Sư Theravada (đa số là các Vị Sadi và Tỳ khưa chưa được học giáo lý, chắc quý vị sẽ nghi ngờ rằng tại sao Tỳ khưu mà chưa am hiểu giáo lí Nguyên thủy phải không? Nhưng có thật đó quý vị ạ) và cư sĩ Theravada do chưa am hiểu giáo lý Phật giáo nguyên thủy và sự thật về các vị Phât tôn giáo (không có thật trong lịch sự) nên niệm A di đa thôi. Còn những vị không thuộc nhóm này thì hoan hỉ đừng khiển trách.

LỜI THẬT MẤT LÒNG

Các Sư ơi làm ơn, một tháng 4 ngày Phật tử đi chùa thì hãy dạy họ kinh tạng Pali / Nikaya, Tứ diệu đế - bát chánh đạo cho Phật tử cho họ biết đâu là Phật có thật và đâu là Phật giả tưởng, đâu là nguyên lý để tu hành giác ngộ - giải thoát. Chứ chỉ biết lo tụng kinh, xây chùa không là "chết"....

Phải thương người thương dân tộc bằng cách cho họ am hiểu Chánh cháp của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật.

Quí vị đắp Y cà sa, tụng kinh Pali tu theo THERAVADA mà niệm A di đà đúng là uổng công đàn na thí chủ và có lỗi với Phật Thích ca mâu Ni quá à.... Tôi thấy đau lòng và thương Đức Phật tổ Thích Ca Mâu Ni lắm. Vì những người tự xưng là đệ tử của Đức Phật lại đi niệm một nhân vật truyền thuyết, không có thật.

Muốn bắt chước người ta thì phải tham khảo Tam tạng kinh điển: kinh (pali nikaya) - luật - luận rồi suy ngẫm, quán xét coi đúng tứ diệu đế - bát chánh đạo không? Nếu đúng và trãi nghiệm có kết quả tâm an tịnh ngay hiện tại thì tin. Chứ tin bừa gọi là mê tín. Ngu muội, VÔ MINH (Đọc kinh Kalama hay tạng Pali để biết thêm niềm tin phải đi đội với sự thật hành có trí tuệ).

Quí vị bắc chước niệm A di đà làm gì? Muốn vãng sanh hả? niệm A di đà hay Quan âm thì đừng tu Nam tông THERAVADA (Thượng tọa bộ) nữa. Qua tu bên tịnh độ china đi. Tu mà không biết, không hiểu, không hành Tứ diệu đế - bát chánh đạo thì tu mù, tu cho có trào lưu chứ không giác ngộ - giải thoát, gì đâu.

Nếu có thời gia thì tôi chia sẻ cho quí vị biết thế nào là tu, thế nào là tịnh độ, thế nào là cực lạc.
Thế nào là "Tự tánh di đà, duy tâm tịnh độ".

Mục tiêu của đạo Phật không phải là cõi thiên đường hay Cực Lạc vì không có cõi như thế, mà mục tiêu là giác ngộ (Tứ diệu đế - bát chánh đạo) - giải thoát (giải thoát khỏi tham dục, phiền não, vô minh, tà kiến) . Muốn làm được thì phải trải qua thời gian vô cùng lâu dài, chứ không thể trong một kiếp người vài chục năm đã đạt được ngay. Ngay cả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng phải trải qua nhiều kiếp sống thực hành liên tiếp dung bồi Ba la mật, chứ chưa nói đến người bình thường như chúng ta, không chịu tu chỉ biết cầu xin mê tín mơ hồ.


Ta đi với nghiệp của ta - Dù cho tốt xấu tạo ra tự mình - Theo ta như bóng với hình - Ta tạo họa phước phân minh rõ ràng.

Ác nghiệp còn một đóng mà vãng sang cực lạc à? Vãng sanh cực khổ thì có lý hơn.

Đức Phật dạy
"Này! Các người phải tự mình thắp đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy Pháp của ta làm đuốc! Hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát! Ðừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khát, đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác, ngoài các người!...
... Này! Các người đừng vì dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời không có gì quý giá. Chỉ có chân lý cuả đạo ta là bất di, bất dịch. Hãy tinh tiến lên để giải thoát, hỡi các người rất thân yêu của ta!"

Lời Phật dạy thì không chịu nghe, còn lời của mấy ông sư thầy nói thì nghe. Nhiều khi tôi không biết mọi người là Phật tử hay Sư tử nữa.
Phật tử là con ông Phật.
Sư tử là con ông sư/thầy.
Con Phật là biết cha mình là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh năm nào, mất năm nào, quê ở đâu, dạy cái gì. Ghi nhớ lời Phật. SỐNG THEO LỜI PHẬT LÀ PHẬT TỬ.
Còn những ai con ông sư/thầy thì chỉ biết ông sư/thầy giảng nói thôi. Giảng khùng giảng điên cũng đội lên đầu, cũng tin mà hành theo. Không hành theo lời Phật. Làm bao nhiêu tiền đem đến dâng cho ông sư/thầy đó xây chùa to Phật lớn, mua 4 bánh, đi du lịch nước ngoài ăn chơi khoe facebook, lên fb đăng hình ông sư đó, like share bài giảng ông sư đó LÀ SƯ TỬ.
Ngày nay, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được Liên Hiệp Quốc, các quốc gia trên thế giới công nhận là nhân vật có thật trong lịch sử, bậc vĩ nhân vĩ đại của nhân loại với các thông tin tư liệu rõ ràng. Mà những người theo tự xưng là Phật tử lại không niệm danh hiệu ngài, không thờ ngài, không học hỏi hành trì theo lời dạy ngày. Lại đi hành theo các gọi là a di đà hay quan âm giả danh. VÔ MINH quá mà!
Một ông sư/thầy mà hỏi đi tu bao nhiêu năm. Trả lời đi tu từ nhỏ tới giờ mấy chục năm. Hỏi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh năm nào không nhớ, mất năm nào không nhớ. Một ông Hòa Thượng mà hỏi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng bài kinh đầu tiên dạy về cái gì, giảng bài kinh cuối cùng khi lúc Phật nhập vô dư y niết bàn ngài dạy những gì không biết. Hỏi những điều căn bản cũng không biết thì nói những pháp hành thực tiễn.
VÔ MINH quá mà, đáng lột y, lấy lại bát tiễn ra khỏi chùa. Cho chừa cái tội theo tà ma A di đà. Đạo Phật là con đường không phải là lễ nghi, hình thức, là chuông mõ, là áo mão. Cái đó là cải lương, là tấu hài, là ba trợn, tu theo Phật là sống giản dị giữa đời thường. Không thấy biết sai lầm mà sống trong chánh niệm tỉnh giác, không tham lam ái dục, không sân hận si mê là tu theo Phật. Là con của Phật.
Đức Phật dạy mấy con không cần xưng, không cần nhận, không cần mua áo mua đồ mặc vào cho giống, không cần giấy chứng nhận mà ai HÀNH THEO BÁT CHÁNH ĐẠO LÀ ĐỆ TỬ PHẬT. CON PHẬT
Nhìn xem có Phật tử nào đâu? Toàn sư tử với khùng khùng điên điên.
Rủ nhau đi chùa xem văn nghệ, đi chùa dự lễ Phật đản có ca sĩ về hát, có nghệ sĩ về diễn. Rủ nhau đi xem. Bộ chùa chiền là rạp hát, gánh hát để tấu hài, diễn văn nghệ? Bài đặt ca nhạc Phật giáo! Ông Phật làm nhạc hồi nào mà ca nhạc Phật giáo. Điều họ bài ra toàn gán cho Phật nói không à.
Rủ nhau đi chùa để ăn tiệc chay, bộ đi chùa để ăn sao? Chùa là nhà hàng hay quán cơm sao?
Chùa là nơi tu hành. Chùa mà không tu hành là không phải chùa. Là thanh lâu, kỷ viện, là nhà chứa, là thua cả ổ xì ke, ổ mại dâm. Vì người ta xì ke, ma túy mại dâm người ta dám xưng dám quảng cáo là xì ke, ma túy, mại dâm, đá gà. Còn cái này xưng là THIỀN MÔN, THANH TỊNH mà làm những chuyện nhơ nhớp, dối trá, phỉ báng Phật, báng Pháp, làm buồn công sức chư thánh tăng, chư tổ sư tu hành tinh tấn khi xưa để lại mái chùa.

Mình tu thì phải tự lực, tu thiền định, Minh sát thân tâm, làm chủ sự sống chết, chấm dứt sự tái sanh luân hồi. Chớ có đâu nương nhờ theo kiểu tha lực, chờ chết cầu xin tiếp độ. Sống mà không thấy Cực Lạc ( hết tham sân si mạn nghi) nó ra làm sao thì đừng mong chết mà thấy, cứ theo sự vẽ vời của kinh sách phát triển (Kinh Tịnh Độ) mà cố mường tượng nghĩ ngợi, ép đầu vắt não tưởng tưởng có mà khổ, đừng để đến khi chết mới biết mình bị mấy tổ tịnh độ lừa gạt có hối thì cũng đã muộn. Với nữa mọi người thiếu Chánh tín trong cách tu tập cứ tụng niệm ê a (chạy theo âm, thinh, sắc, tướng...) nào kinh nào kệ, sám Văn phát nguyện, cầu xin Phật cứu độ tiếp dẫn cầu siêu về Cực Lạc... (trời trời, buồn cười!!!) Đạo Phật là con đường không phải là lễ nghi, hình thức, là chuông mõ, là áo mão. Cái đó là cải lương, là tấu hài, là ba trợn, tu theo Phật là sống giản dị giữa đời thường. Không thấy biết sai lầm mà sống trong chánh niệm tỉnh giác, không tham lam ái dục, không sân hận si mê là tu theo Phật. Trong khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy rồi, Phật không có quyền ban phước cũng không có quyền giáng họa cho ai, hà tất lại phải cầu xin vô ích. Thế mà lại mê tín cầu tin một cõi vô vi không thật có, rồi xem nó là một cõi, một đích đến cuối cùng trong sự tu tập rồi lấy đó làm thành quả viên mãn. Đúng là VÔ MINH, tà kiến đó mà.

Không có a di đà, quan âm hay di lạc gì cả. HÀNG GIẢ ĐẤY

Hình tượng "Phật Ngàn Mắt Ngàn Tay’ của Đại Thừa giáo chính là hung thần Aj-jun của Bà-la-môn giáo, đã được các luận sư Bà-la-môn gián điệp cải trang đưa vào trong Phật giáo. Thật vậy, trong Chuyện Tiền thân Bhùridatta, số 543, Bà-la-môn Kànàrittha đã nêu rõ:
“119. Ku-ve-ra, So-ma, các thần,
Dhà-tà, Vi-dha, cùng trời, trăng,
Bao phen đã cử hành đàn tế,
Ban các La-môn mọi phước ân.
120. Aj-jun vĩ đại giáng tai ương,
Chi chít ngàn tay mọc khắp thân;
Mỗi cặp tay cầm cung dọa nạt,
Dâng thần Lửa lễ vật đầy tràn!”

Rõ ràng các luận sư Bà-la-môn gián điệp đã cải trang hung thần Aj-jun (thấp kém hơn cả thần lửa) của Bà-la-môn giáo thành Phật Ngàn Tay Ngàn Mắt cho Đại Thừa để xỏ mũi những ai tin theo.
Cho nên rằng thì là các Phật tử Đại Thừa càng khoe khoang hình tượng "Phật Ngàn Mắt Ngàn Tay" của mình bao nhiêu, các ông Bà-la-môn hiện nay càng ngấm ngầm khinh chê họ bấy nhiêu. Hèn chi, qua bao đời những ông Bà-la-môn vẫn coi thường Phật giáo biến thái là phải!
Còn vì sao các gián điệp Bà-la-môn lại dựng thêm hình tượng Phật bà Quan Âm trong Đại Thừa giáo? Vì trong Chánh Kinh Nikaya, Đức PhậtThích Ca đã dạy rõ một vị có chánh kiến là:


“Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể thành A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy không có xảy ra". Và vị ấy biết rõ rằng: Sự kiện này có xảy ra: Khi một nam nhân có thể thành một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy có xảy ra” (MN 115)

A La Hán Chánh Đẳng Giác chính là Đức Phật độc tôn. Vì thế những ai tin theo các Bà-la-môn gián điệp thừa nhận hình tượng “Phật bà” hoặc “Phật mẫu” là gánh lấy tà kiến mà không biết.

A-di-đà xuất hiện tại Trung Hoa hàng trăm năm sau khi Phật Thích Ca nhập diệt với 48 lời nguyện phi nhân quả, phi công lý: chỉ cần niệm danh a di đà dù kẻ diệt chủng, loạn luân dâm ác… cũng được cứu rỗi, còn nạn nhân lương thiện không niệm A-di-đà lại bị bỏ lờ sống chết mặc bay.

Kinh A-di-đà và luận ca ngợi A-di-đà do ai giới thiệu? Do Cưu Ma La Thập sống sau Phật cả chục thập kỷ. Chính Cưu Ma La Thập đã ngang nhiên phá giới nhận và loạn dâm với cả mười cung nữ từ vua Dao Tần ban cho. Tin tưởng theo một giáo lý phi lý trí và từ một tà sư như thế, quả thật là cuồng tín si mê.

Còn hình tượng "Phật Di Lặc" thế nào? Đây cũng là sản phẩm do các Bà-la-môn tung vào Phật giáo. Những ai không nhận thức sự thật này hãy thử hình dung một giáo đoàn sẽ như thế nào nếu tất cả từ Pháp chủ, Hoà thượng, Tăng Ni, sadi, sadini, nam nữ cư sĩ đều nhất loạt noi theo gương ông giáo chủ Di Lặc vô tư phanh ngực, phanh bụng, lòi rốn trước mắt bàn dân thiên hạ?
Một đứa con nít tám tuổi chỉ cần tưởng tượng một chút thôi cũng đủ biết cái Pháp hội mùa xuân Long Hoa của Đại Thừa giáo hấp dẫn, mê ly và trang nghiêm đến như thế nào!

Cần nói rõ thêm, trong kinh văn gốc (DN26) có nói đến Đức Phật Mettayya tương, thế nhưng trong hình dạng dung tục phồn thực như Di Lặc thì chỉ có con nít ba tuổi mới không biết đó là ý đồ nham hiểm của các Bà-la-môn gián điệp vẽ ra nhằm bôi nhọ, dung tục hóa hình ảnh Chư Phật. Ai tin theo đây cũng đồng nghĩa phỉ báng danh hiệu Phật, huỷ báng hình ảnh thiêng liêng của Chư Phật.
Thêm nữa, trong Kinh - Luật gốc, trong vòng sanh tử luân hồi vô thỉ vô chung, trước sau như một, chỉ có sáu Đức Phật quá khứ và một Đức Phật Thích Ca của kiếp hiện tại. Thế nhưng chỉ vài trăm năm sau khi Phật Thích Ca nhập diệt, các tổ sư gián điệp đã tầm thường hóa danh hiệu Phật bằng cách vẽ thêm cho Đại thừa giáo hàng chục ngàn vị Phật (kinh Vạn Phật), chúng sanh nào cũng có thể thành Phật vì ‘chúng sanh đồng Phật tánh’ (kinh Pháp Hoa) v.v…

Thậm chí kẻ vẽ ra “kinh 42 Chương” cho Đại thừa giáo còn ma mãnh phỉ báng danh vị Phật và xỏ mũi những ai tin theo khi phán rõ rành rành “Cho một ngàn ức vị Phật ba đời ăn không bằng cho một vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng ăn” (Chương thứ 11)???
Thế đấy, ‘vị vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng’ là ai, trong khi các ‘vị’ vô tâm vô tư ngoài đồng gặm cỏ có vị nào có niệm, có trụ, có tu, có chứng? Quái quỷ đến thế thì thôi! Khốn thay kinh 42 Chương của Đại thừa đã được vô tư truyền ‘dại’ qua hàng bao thế kỷ không một ai thắc mắc, không một lời cảnh báo.

Rõ ràng sự cả tin ngây thơ cũng là đồng bạn cho ma lừa phỉnh, quỷ gạt lừa xuống chín tầng địa ngục. Ai đó đã nói rất đúng ‘tôn giáo là ma túy của nhân loại’. Ở đây, Đại thừa giáo cũng là ma túy của những Đại thừa sinh! Các đệ tử Đại thừa tham ‘xe to, pháp lớn’ đợi đến khi nào mới chịu mở mắt ra đây?

Chính vì thế, trong kinh Nguyên thủy Tương Ưng, Đức Phật Thích Ca đã dạy rằng:
“Ví như, này Kassapa, vàng (thật) không biến mất khi nào vàng giả chưa hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào vàng giả hiện ra ở đời, thời vàng (thật) biến mất.
Cũng vậy, này Kassapa, diệu pháp không biến mất, khi nào tượng pháp chưa hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời diệu pháp biến mất.
Này Kassapa, địa giới không làm Diệu pháp biến mất, thủy giới không làm Diệu pháp biến mất, hỏa giới không làm Diệu pháp biến mất, phong giới không làm Diệu pháp biến mất.
Ở đây, khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm Diệu pháp biến mất” (S.ii,223).

Thật vậy, Phật thật không biến mất khi nào Phật giả chưa hiện ra ở đời; và khi nào Phật giả hiện ra ở đời, thời Phật (thật) biến mất.
Vì sao? Vì chỉ có ác ngu si mới lộng giả thành chân, mới dựng tà phá chánh; và cũng chỉ có thậm ngu si mới nghe sao tin vậy, không biết phân biệt đúng sai, thật giả, chánh tà. Hai thứ ngu này hợp lại; Diệu Pháp của bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác làm sao còn được!
Đã đến lúc si mê phải trả về cho si mê, vàng thật phải trả về cho Đạo Phật!

Các Sư nam tông hay tụng câu này hoài mà không hiểu sao? Hay khi tụng, các Sư tụng bằng tiếng Pali nên các Sư không hiểu?
«Các chúng sanh được sanh về cõi trời cũng nhờ giữ giới, các chúng sanh được giàu sang cũng nhờ giữ giới. Các chúng sanh được giải thoát nhập Niết Bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy nên chư thiện tín phải ráng thọ trì giới luật cho được trong sạch, đừng để lấm nhơ.»

Người cư sĩ thì giữ 5 giới cơ bản (ngũ giới) và hành thập thiện.
Còn 227 giới cho Tỳ-kheo, 311 giới cho Tỳ-kheo ni, theo truyền thống Nguyên Thủy THERAVADA; 250 giới cho Tỳ-kheo, 348 giới cho Tỳ-kheo ni, theo truyền thống Bắc tông.

Mọi người ngũ giới (không sát sanh, Không trộm cắp, Không tà dâm, không nói dối, không uống các chất sai - nghiện) không giữ được mà muốn cực lạc à? Biết cực lạc là gì không? Ngũ giới giữ không giữ được thì sau khi chết tái sanh kiếp sau không được làm người đâu nha, mà là sanh thành A tu la, ngã quỷ, địa ngục, súc sanh đây. Nói chi kiếp sau, ngay trong kiếp này mà làm ác thì mọi người cũng tương ưng với trạng thái A tu la, ngã quỷ, địa ngục, súc sanh rồi đấy.

Đức Phật nói,
. Giữ được ngũ giới là tương ưng cõi người.
. Hành được thập thiện (10 điều lành: Không giết hại.
Không tà dục.
Không trộm cắp.
Không nói dối.
Không nói thêu dệt.
Không nói lưỡi hai chiều.
Không nói lời hung ác.
Không tham muốn.
Không giận hờn "sân".
Không si mê.) là tương ưng cõi trời.
. Ai không giữ trọn ngũ giới thì là A tu la, ngã quỷ, địa ngục, súc sanh phải chịu sự cực khổ. NHỚ NHÉ!!!

Muốn vãng sanh hả? Vô minh, ảo tưởng vừa thôi chẳng có Ông A di đà nào rước đâu quí vị à. Lo mà giữ giới rồi tu hành theo Bát chánh đạo cho hết tham, sân, si đi nha. Còn dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu thì còn tham, sân, si mà còn tham, sân, si thì còn tái sanh còn khổ chứ không có thằng A di đà hay quan âm nào rước về cực lạc đâu nha.


Hãy nghe lời Phật dạy "Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy". (Tăng Chi II)


Xin thưa quí vị à, làm ơn vô chùa nào các Sư có học pháp và hành pháp nhờ các vị đó chỉ dạy lại giáo pháp của ĐẠO PHẬT.

Đừng tin vào A di đà hay quan âm của Tịnh độ kiểu Trung quốc. Việt (Tịnh độ) thì bị Tịnh độ Tàu (China) dụ, còn KHMER thì bị Tịnh độ (Việt) dụ.
Có tịnh độ hay không là do thân tâm mình nè chứ không ai làm cho mình hết khổ đâu. Dù được sống gần Phật đi nhưng tâm của mình còn Tham, sân, si... thì đó không phải cực lạc mà đó là địa ngục.

Hồi xưa ông bà toàn niệm «Buddha Dhamma Sangha» hay «Arahan SammasamBuddho» còn bây giờ bắt chước Tịnh độ niệm A di đà hay quan âm. Đau lòng quá, Phật ơi. Quí vị niệm với tâm còn bị tham, sân, si chi phối trong đó thì niệm cái gì cũng tà niệm thôi.

Niệm muốn niệm Phật hãy niệm Đức Phật lịch sự có thật hoặc niệm Ân Đức Phật chứ đừng niệm GIẢ PHẬT A DI ĐÀ ẢO TƯỞNG.

“Itipi so Bhagavā Arahaṃ, Sammāsambuddho, Vijjācaraṇasampanno, Sugato, Lokavidū, Anuttaro purisadammasāratthi, Satthādevamanussānaṃ, Buddho, Bhagavā”
Hãy nhớ:


không ai làm cho mình ô nhiễm
không ai làm cho mình thanh tịnh
Ô nhiễm hay thanh tịnh là do thân tâm mình.


hãy niệm Đức Phật lịch sự có thật hoặc niệm Ân Đức Phật

Trong một bài kinh Kamala đức Phật dạy: "Này những người Kamala,không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghe nói lại. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì tập tục cổ truyền để lại như thế. Không nên chấp nhận điều gì bởi vì lời đồn đãi. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì được ghi chép trong kinh sách, do ức đoán như vậy, suy diễn như vậy, do nhận thấy bề ngoài. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hợp với thành kiến của mình, hình như có thể chấp nhận được. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghĩ rằng vị tu sĩ thốt ra, điều ấy được kính trọng từ trước.
Chỉ tin sau khi các người hiểu rõ ràng, những điều này phù hợp với luân lý; những điều này không bị khiển trách, những điều này được các bậc thiện trí thức tán dương, nếu thực hiện điều này sẽ được an vui hạnh phúc, thì các người hãy hành động đúng như vậy ".

Đức Phật không phải là thần linh. Ngài không ban phước giáng họa cho ai cả. Ngài là bậc Đạo Sư tìm thấy và chỉ dạy chúng sanh con đường tu giải thoát khỏi cảnh khổ của lục đạo luân hồi.
Các vị Tăng Ni tu đang theo Phật cũng không phải là thần, hay thánh. Các vị Tăng Ni không có năng lực nào để cầu xin cho người chết vãng sanh cực lạc theo kiểu cách lễ trai đàn bạt mạng giải oan của các tà sư trong chùa. Tại sao? Bởi vì các tà sư còn chưa chắc được vãng sanh kia mà. Chúng ta là người tu theo Phật phải có nhận thức sáng suốt biết rõ con đường đúng sai, chứ không phải ai nói gì cũng nghe, ai bày vẽ gì cũng nhắm mắt tin theo.

Trước Tam bảo, người ta lạy lục cầu xin: xin tai qua nạn khỏi, xin giàu sang phú quý, xin tiền tài, xin địa vị. Họ mang theo rất nhiều lễ vật, xì xụp khấn vái, cầu xin. Họ đem tiền thật mua tiền giả (vàng mã) dâng cúng thánh thần, họ cầu xin thật nhiều tiền thật trở lại. Họ đem dâng cúng một vài trái cây, cầu xin sống thọ. Khắp nơi trong khuôn viên chùa chỗ nào cũng thấy cắm nhang đèn, tiền lẻ rải khắp nơi; lò hóa vàng giả rừng rực cháy mang theo muôn vàn lãng phí. Cảnh chen chúc, giẫm đạp nhau ở cửa thiền để được làm lễ cầu an, cầu siêu, cúng sao giải hạn trong dịp đầu năm không thể chấp nhận được. Tại sao? Cầu an chưa thấy được bình an, đã phải nhập viện vì thương tích do chen lấn, tranh giành giẫm đạp nhau.

Trong tình hình đó, đáng lẽ hàng ngũ Tăng Ni ở các ngôi chùa cần phải hướng dẫn, chấn chỉnh lại nhận thức sai lệch của người dân, của Phật tử. Tuy nhiên, với lý luận phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng mà nhiều ngôi chùa, nhiều nhà sư lại dễ dãi chấp nhận việc người dân, người Phật tử đến chùa chỉ để cầu khẩn van xin phi chánh pháp. Hình ảnh một số nhà sư cúng sao giải hạn, gieo quẻ âm dương, chọn ngày lành tháng tốt, đã và đang dẫn dắt một số khá đông Phật tử dần dần mang đậm màu sắc mê tín, tà pháp, lạc vào tà đạo, nhưng cứ ngỡ rằng mình đi chùa như thế là tốt, được tiếng khen thuần thành, tu giỏi.
Để trả lại sự trang nghiêm thanh tịnh cho chùa chiền, giúp chúng sinh nhận thức rõ về giáo lý và lời dạy của Đức Phật, chùa chiền nên truyền bá phương pháp tu tâm thanh tịnh và tìm được an lạc ngay trong cuộc sống hiện tại.

Các bậc chân tu nhận sự cúng dường của bá tánh không phải để tranh danh đoạt lợi, mà dành nhiều thời gian nghiên cứu kinh điển, hiểu rõ lời kinh, tâm từ bi thương xót, giảng dạy Phật tử có căn bản về nhận thức đạo Phật là đạo trí tuệ, đi đúng chánh đạo.

Tu theo Phật là tự lực, nổ lực, cố gắng để đạt được sự sáng suốt, giác ngộ giải thoát, từ bi trí tuệ.
Trước hết là chuyển đổi nhận thức đầy mê tín đến cuồng tín do tham sân si của phần đông Phật tử không có giáo lý căn bản, cần nhất là hàng ngũ Tăng Ni tại các chùa chiền hay tự viện.

Xã hội trong và ngoài nước nhận biết đạo Phật thông qua các hoạt động của hàng ngũ Tăng Ni, Phật tử, sự hiểu sai lầm về đạo Phật đầy mê tín thần quyền trong xã hội văn minh hiện đại ngày nay thật vô cùng tai hại. Cuộc sống thường ngày của Tăng Ni và Phật tử là tấm gương phản chiếu tư tưởng Phật giáo trực tiếp đến cộng đồng và xã hội ngày nay trong và ngoài nước.

Nếu chúng ta tự nhận là người đang tu theo Phật, đều phải đau lòng và có trách nhiệm đánh lên tiếng chuông thức tỉnh những người đang ngụp lặn trôi theo dòng sông mê!




Người Khmer - Việt riết rồi bị đồng hóa văn hóa tôn giáo lẫn đời sống, từ từ mất hết văn hóa, đất đai cho coi. Nhẹ dạ cả tin. VÔ MINH VỪA THÔI

Ý NGHĨA 9 ÂN ĐỨC PHẬT
1) Arahaṃ: Đức Arahán là Bậc cao thượng có thân khẩu ý hoàn toàn trong sạch và thanh tịnh, xứng đáng thọ nhận sự lễ bái cúng dường của chư thiên, phạm thiên và nhân loại.
2) Sammāsambuddho: Đức Chánh Đẳng Giác là Bậc tự mình chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não, mọi tham ái, mọi ác pháp không còn dư sót, đầu tiên trong toàn cõi thế giới chúng sinh; đặc biệt diệt được mọi tiền khiên tật, trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, độc nhất vô nhị.
3) Vijācaraṇasampanno: Đức Minh Hạnh Túc là Bậc có đầy đủ Tam Minh, Bát Minh và 15 Đức Hạnh cao thượng.
4) Sugato: Đức Thiện Ngôn là Bậc thuyết pháp chân lý đem lại lợi ích thật sự cho chúng sinh.
5) Lokavidū: Đức Thông Suốt Tam Giới là Bậc thấy rõ, biết rõ chúng sinh thế giới, cõi thế giới, pháp hành thế giới.
6) Anuttaro purisadammasārathi: Đức Vô Thượng giáo hóa chúng sinh là Bậc giáo huấn chúng sinh cải tà quy chánh, cải ác làm thiện, từ hạng phàm nhân lên bậc Thánh Nhân.
7) Satthādevamanussānam: Đức Thiên Nhân Sư là Bậc Thầy của chư thiên, chư phạm thiên, nhân loại…
8) Buddho: Đức Phật là Bậc tự mình chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn đầu tiên trong toàn cõi thế giới chúng sinh, trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác độc nhất vô nhị, rồi Ngài thuyết pháp giáo huấn chúng sinh có duyên lành cũng chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế y theo Ngài (cũng chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn tùy theo năng lực ba-la-mật và hạnh nguyện của mỗi chúng sinh).
9) Bhagavā: Đức Thế Tôn là Bậc có 6 Ân đức đặc biệt do đầy đủ trọn vẹn 30 pháp hạnh ba-la-mật của Ngài.


Phải quay về làm Phật tử con của Phật Thích Ca Mâu Ni. Tu tập theo Giới - Định - Tuệ Ai hỏi đi chùa làm gì. TRẢ LỜI DỨT KHOÁC. VÀO ĐỂ TU, KHÔNG PHẢI VÀO ĐỂ HƯỞNG LẠC, VUI CHƠI. VÀO CHÙA LÀ THỌ BÁT QUAN TRAI HẾT. BÁT QUAN TRAI LÀ GÌ DÁM KHÔNG NHỚ, KHÔNG BIẾT LUÔN LÀ TIÊU RỒI. ĐỪNG XƯNG LÀ PHẬT TỬ NỮA. MẤT MẶC LẮM. CỐ GẮNG TẠO ĐIỀU KIỆN CHO NHAU NGHIÊN CỨU GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT.


Phật thật phật giả
Phật xưa bình bát cà sa
Trì bình khất thực sống qua từng ngày
Mấy ông trung quốc ngày nay
Dọn cơm mâm chén ăn chay bỏ bình(bình bát)
Phật xưa chỉ độ chúng sinh
Hữu duyên chánh pháp chỉ mình hướng đi
Mấy ông trung quốc tức thì,
Độ luôn tất cả "a mi phò phò"
Phật xưa tu phải tự lo
Mấy ông trung quốc bài trò vãng sanh
Phật xưa muốn đắc phải hành
Mấy ông trung quốc để dành tây phương
Phật xưa thuyết pháp dẫn đường
Mấy ông trung quốc chủ trương di đà
Phật xưa chỉ có 1 mà
Mấy ông trung quốc chế ra quá chừng
Phật xưa di tích lẫy lừng
Còn phật trung quốc tự dưng có à,
Phật xưa có mẹ có cha
Còn phật trung quốc di đà ai sinh?
Phật xưa thuyết ba mươi nghìn(bài kinh)
Mấy ông trung quốc vãng sinh đủ rồi
Phật xưa phải niêt bàn thôi!
Còn phật trung quốc mồ côi (ko cha ko mẹ) sống hoài
Phật xưa thiện, ác giải bài
Còn phật trung quốc cái này khỏi luôn
Lạy là nghiệp ác phải chuồn
Hà sa tội lỗi diệt luôn tức thì
Phật xưa trú trọng tuệ tri
Còn phật trung quốc tin thì rướt mau..
Phật xưa vẫn phải bệnh đau
Còn phật Trung Quốc dồi dào an khang
Phật xưa có thật rõ ràng
Còn Phật trung quốc y trang chúa trời
Phật xưa thuyết pháp rõ ràng
Còn phật trung quốc nguỵ lời phật xưa..
Tạo ra cái Thứ Đại Thừa
Nhồi sọ dân chúng Nói Bừa Cũng Tin.


Cư sĩ cũng cần được học giáo lý

Không biết thì phải học, Không ai sinh ra từ bụng mẹ không học mà biết hết tất cả đâu.
Nói thật, hồi đó tôi tu Tịnh độ bên Bắc tông nhưng nhờ tôi chịu khó tìm hiểu kinh tạng, tôi không có tin bừa nên mới nhận biết đâu chánh và đâu tà nên tôi mới quay về với Phật giáo Nguyên thủy THERAVADA của Đức Phật Thích ca mâu Ni.

Mọi người, tôi nói ra là vì tình thần dân tộc và đạo pháp nên mong mọi người cố gắng đọc và hiểu. Mọi người, đồng bào dân tộc KHMER một tháng đem cơm vào chùa bốn ngày phải không? Vào các ngày đó các Sư điều cho mọi người quy Tam bảo: Phật, Pháp và Tăng. Cho nên mọi người là cư sĩ. Là cư sĩ thọ tam quy thì phải trì ngũ giới (5 giới tôi kể ở trên) mục đích của thọ trì ngũ giới là giúp chúng ta sống đạo đức con người, hạnh phúc và kiếp sau được sanh trở lại làm người để có duyên tu hành giác ngộ-giải thoát. Có thể trong bài này tôi không nói hết những điều cần nói với mọi người nên tôi hẹn ở các bài sau. Tiếp theo, tôi sẽ chia sẽ những điều cơ bản cần thiết của người Phật tử THERAVADA chân chánh. Tôi sẽ cố gắng nêu lại thật ngắn gọn cho mọi người dễ hiểu, mong mọi người hãy cùng nhau đọc và suy ngẫm tưư duy cho thông suốt.

Đức Phật dạy rất rõ là người Cư sĩ phải tìm hiểu những cái sau:

"NHỮNG GÌ CẦN PHẢI THÔNG SUỐT THÌ HÃY THÔNG SUỐT"


1./ Tứ diệu đế hay Tứ thánh đế

. Khổ đế (Sự thật về khổ)
. Tập đế (Nguyên nhân đưa đến khổ)
. Diệt đế (Trạng thái không có khổ, không có tham dục )
. Đạo đế (Con đường đưa đến diệt khổ)

- Đây là Chân lí Đức Phật Mâu Ni tìm ra và đó là chân lí của thế gian này. Chân lí là những điều có sẵn, Không ai tạo ra và không ai thay đổi được.

Tứ Thánh-Đế Trong Phật Giáo


Tứ Thánh-đế là sự-thật chân-lý của chư bậc Thánh-nhân chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, là chánh-pháp cốt lõi căn bản trọng yếu trong giáo pháp của chư Phật quá-khứ, Đức-Phật hiện-tại và chư Phật vị-lai.


Tứ-Thánh-Đế:
1- Dukkha ariyasacca: Khổ-Thánh-đế đó là ngũ-uẩn-chấp-thủ hoặc sắc-pháp, danh-pháp trong tam-giới.
Trong giáo pháp của Đức-Phật, tất cả mọi sắc-pháp, mọi danh-pháp trong cõi dục-giới, cõi sắc-giới, và danh-pháp trong cõi vô-sắc-giới, đúng theo sự-thật chân-lý thì chỉ có dukkha-sacca: khổ-đế mà thôi, không có pháp nào gọi là lạc-đế cả.
Tuy trong thọ tâm-sở (vedanācetasika) có sukhavedanā: thọ lạc, nhưng sukhavedanā: thọ-lạc ấy gọi là vipariṇāmadukkha: biến-chất-khổ, bởi vì thọ-lạc (sukhavedanā) sinh rồi diệt vô-thường làm biến chất, luôn luôn hành hạ, nên chỉ là khổ-đế mà thôi.
Thọ lạc dù là khổ vẫn còn dễ chịu đựng.
Như vậy, tất cả mọi sắc-pháp, mọi danh-pháp thuộc về pháp-hữu-vi đúng theo sự-thật chân-lý thì chỉ có khổ-đế mà thôi, không có lạc-đế.
Nếu có lạc (sukha) thì lạc ấy gọi là sukhavipallāsa: lạc-đảo-điên do tưởng-đảo-điên (saññāvipallāsa), tâm-đảo-điên (cittavipallāsa), tà-kiến-đảo-điên (diṭṭhivipallāsa).
Tất cả mọi sắc-pháp, mọi danh-pháp trong tam-giới thuộc về pháp-hữu-vi đều sinh rồi diệt, nên có 4 trạng-thái: trạng-thái-vô-thường, trạng-thái-khổ, trạng-thái-vô-ngã, trạng-thái-bất-tịnh, nhưng do tưởng-đảo-điên, tâm-đảo-điên, tà-kiến-đảo-điên tưởng sai, biết sai, thấy sai, chấp lầm cho rằng:
“Danh-pháp, sắc-pháp là thường, lạc, ngã, tịnh”.
Đúng theo sự-thật chân-lý thì tất cả mọi sắc-pháp, mọi danh-pháp trong tam-giới thuộc về pháp-hữu-vi chỉ là dukkhasacca: khổ-đế mà thôi, không có lạc-đế nào cả.
2- Dukkhasamudaya ariyasacca: Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế đó là taṇhā: tham-ái.
Tham-ái là nhân sinh khổ trong kiếp hiện-tại và kiếp vị-lai.
* Tham-ái là nhân sinh khổ trong kiếp hiện-tại
– Nếu tâm tham-ái muốn được điều gì đó, vật gì đó,.. mà không được thoả mãn như ý, thì sân-tâm phát sinh không vừa lòng, làm cho khổ-tâm.
* Nếu tâm tham-ái muốn được điều gì đó, vật gì đó … mà được thoả mãn như ý, thì tham-tâm phát sinh chấp thủ cho là của ta, cũng làm nhân phát sinh khổ-tâm như lo lắng, giữ gìn, sầu não.
Như Đức-Phật dạy câu kệ rằng:
“Taṇhāya jāyati soko,
taṇhāya jāyatī bhayaṃ.
Taṇhāya vippamuttassa,
natthi soko kuto bhayaṃ.”([1])
Sự sầu não phát sinh do tham-ái,
Sự lo sợ phát sinh do tham-ái,
Bậc Thánh A-ra-hán diệt tham-ái,
Không còn sầu não, từ đâu có lo sợ?

* Tham-ái là nhân-sinh-khổ trong kiếp vị-lai
Tất cả mọi chúng-sinh nào hễ còn tham-ái là còn phải tái sinh kiếp-sau, các chúng-sinh ấy gồm cả 3 bậc Thánh hữu học: bậc Thánh-Nhập-lưu, bậc Thánh-Nhất-lai, bậc Thánh-Bất-lai, bởi vì 3 bậc Thánh-nhân này vẫn còn một phần tham-ái.
* Chỉ có bậc Thánh-A-ra-hán đã diệt-đoạn-tuyệt tất cả mọi tham-ái, hoàn toàn không còn tham-ái dư sót nữa mà thôi.
Chúng-sinh còn có tham-ái sau khi chết thì tham-ái dẫn dắt nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau, kiếp sau như thế nào là hoàn toàn tuỳ thuộc vào quả của nghiệp của mỗi chúng-sinh ấy.
* Chúng-sinh ấy sau khi chết, nếu ác-nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau thì sinh vào 1 trong 4 cõi ác-giới (địa-ngục, a-tu-la, ngạ-quỷ, súc-sinh), thuộc loại chúng-sinh nào, trong cõi nào là hoàn toàn tuỳ thuộc vào quả của ác-nghiệp của chúng-sinh ấy mà thôi.
* Chúng-sinh ấy sau khi chết, nếu dục-giới-thiện-nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau thì sinh làm người trong cõi người hoặc làm chư thiên trong cõi trời dục-giới, được sinh trong cõi thiện-dục-giới nào là hoàn toàn tuỳ thuộc vào quả của dục-giới-thiện-nghiệp của chúng-sinh ấy mà thôi.
* Hành giả đã chứng đắc các bậc thiền-sắc-giới sau khi chết, chắc chắn sắc-giới-thiện-nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau, sinh làm phạm thiên trong cõi trời sắc-giới, được sinh trong cõi trời sắc-giới nào là hoàn toàn tuỳ thuộc vào quả của sắc-giới-thiện-nghiệp sở đắc của hành-giả ấy mà thôi.
* Hành-giả đã chứng đắc các bậc thiền-vô-sắc-giới sau khi chết, chắc chắn vô-sắc-giới-thiện-nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau, sinh làm phạm thiên trong cõi trời vô-sắc-giới, được sinh trong cõi trời vô-sắc-giới nào là hoàn toàn tuỳ thuộc vào quả của vô-sắc-giới-thiện-nghiệp sở đắc của hành-giả ấy mà thôi.
Ba Bậc Thánh Hữu Học (Sekha ariya)
* Bậc Thánh-Nhập-lưu sau khi chết, vĩnh viễn không bao giờ bị sa đoạ trong 4 cõi ác-giới nữa, mà chỉ có thiện-nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau làm người trong cõi người hoặc làm chư thiên trong cõi trời dục-giới nhiều nhất 7 kiếp nữa mà thôi.
Đến kiếp thứ 7, chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.
* Bậc Thánh-Nhất-lai sau khi chết, dục-giới-thiện-nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau làm người trong cõi người hoặc làm chư thiên trong cõi trời dục-giới chỉ còn 1 kiếp nữa mà thôi.
Trong kiếp ấy chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.
* Bậc Thánh-Bất-lai sau khi chết, không còn tái sinh trở lại cõi dục-giới, mà chỉ có sắc-giới-thiện-nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau làm phạm thiên trong cõi trời sắc-giới mà thôi, được sinh trong cõi trời sắc-giới nào tuỳ theo bậc thiền sở đắc của Ngài.
Vị Thánh-Bất-lai phạm-thiên ấy chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh-A-ra-hán tại cõi trời sắc-giới, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.
* Bậc Thánh A-ra-hán đã diệt-đoạn-tuyệt được mọi tham-ái không còn dư sót, nên ngay kiếp hiện-tại, Ngài chắc chắn sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.
.
3- Dukkhanirodha ariyasacca: Diệt-Khổ-Thánh-đế đó là Niết-bàn.
Niết-bàn là pháp diệt Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế và cũng là pháp diệt quả Khổ-Thánh-đế.
* Diệt Nhân-Sinh-Khổ-Thánh-Đế
Hành-giả thực-hành pháp-hành-thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, diệt-đoạn-tuyệt mọi tham-ái, mọi phiền não không còn dư sót, gọi là Phiền-não Niết-bàn (Kilesa-parinibbāna), nghĩa là mọi tham-ái, mọi phiền não đã bị diệt-đoạn-tuyệt rồi, mọi phiền não vĩnh viễn không còn phát sinh nữa.
Như vậy, Niết-bàn là pháp diệt Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế.
* Diệt Quả Khổ-Thánh-Đế
Chư Thánh A-ra-hán đã diệt-đoạn-tuyệt mọi tham-ái mọi phiền não không còn dư sót nữa, đến khi hết tuổi thọ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới, gọi là Ngũ-uẩn Niết-bàn (Khandhaparinibbāna) nghĩa là sau khi tịch diệt Niết-bàn rồi, không còn tái sinh kiếp nào nữa.
Như vậy, Niết-bàn là pháp diệt quả Khổ-Thánh-đế.

4-Dukkhanirodhagaminī paṭipadā ariyasacca: Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế đó là pháp-hành bát-chánh-đạo.
Bát-chánh-đạo có 8 chánh: chánh-kiến, chánh-tư-duy, chánh-ngữ, chánh-nghiệp, chánh-mạng, chánh-tinh-tấn, chánh-niệm, chánh-định, đó là 8 tâm-sở, là trí-tuệ tâm-sở, hướng-tâm tâm-sở, chánh-ngữ tâm-sở, chánh-nghiệp tâm-sở, chánh-mạng tâm-sở, tinh-tấn tâm-sở, niệm tâm-sở, nhất-tâm tâm-sở.
Bát-chánh-đạo có 8 chánh, đó là 8 tâm-sở này không đồng sinh đầy đủ trong tam-giới-tâm, nhưng khi hành-giả thực-hành pháp-hành-thiền-tuệ, đến khi chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả nào có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới, khi ấy, bát-chánh-đạo hợp đủ 8 chánh đó là 8 tâm-sở: trí-tuệ tâm-sở, hướng-tâm tâm-sở, chánh-ngữ tâm-sở, chánh-nghiệp tâm-sở, chánh-mạng tâm-sở, tinh-tấn tâm-sở, niệm tâm-sở, nhất-tâm tâm-sở đồng sinh với Thánh-đạo-tâm ấy hoàn thành xong 4 phận-sự:
– Khổ-Thánh-đế là pháp nên biết, thì Thánh-đạo-tuệ đã biết xong,
– Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế là pháp nên diệt, thì Thánh-đạo-tuệ đã diệt xong,
– Diệt-Khổ-Thánh-đế là pháp nên chứng ngộ, thì Thánh-đạo-tuệ đã chứng ngộ xong,
– Pháp-hành dẫn đến diệt-Khổ-Thánh-đế là pháp nên tiến hành, thì Thánh-đạo-tuệ đã tiến hành xong.
Vì vậy, bát-chánh-đạo là pháp-hành dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn, diệt-Khổ-Thánh-đế.
Tứ Thánh-đế này là pháp nền tảng căn bản, là cốt lõi chính yếu trong giáo pháp của chư Phật Chánh-Đẳng-Giác quá-khứ, hiện-tại, vị-lai, bởi vì hành-giả thực-hành pháp-hành-thiền-tuệ, ban đầu dù có những đối-tượng-thiền-tuệ khác nhau như thân, thọ, tâm, pháp, ngũ-uẩn, 12 xứ, 18 tự-tánh (dhātu), v.v… đến giai đoạn cuối, cũng đều dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, rồi mới chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn được.
Cho nên, tứ Thánh-đế là sự-thật chân-lý mà chư bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, là pháp căn bản cốt yếu trong giáo pháp của chư Phật trong 3 thời quá-khứ, hiện-tại, vị-lai.
Nhân Quả Liên Quan Của Tứ Thánh-Đế
Chân-lý tứ Thánh-đế có nhân-quả liên quan với nhau:
* Khổ-Thánh-đế đó là ngũ-uẩn-chấp-thủ hoặc sắc-pháp, danh-pháp trong tam-giới, là quả của Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế.
* Nhân-sinh-Khổ-Thánh-đế đó là tham-ái là nhân phát sinh Khổ-Thánh-đế, tham-ái, là nhân dẫn dắt tái sinh kiếp sau (taṇhā ponobbhavikā).
* Diệt-Khổ-Thánh-đế đó là Niết-bàn không thuộc về quả của một nhân nào cả, bởi vì, Niết-bàn là pháp-vô-vi (asaṅkhatadhamma) là pháp hoàn toàn không có một nhân-duyên nào cấu tạo.
* Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế đó là pháp-hành bát-chánh-đạo là pháp-hành dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn, Diệt-Khổ-Thánh-đế.
Như vậy, pháp-hành bát-chánh-đạo là pháp-hành dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn, Diệt-Khổ-Thánh-đế, không phải là nhân phát sinh Niết-bàn. Cho nên Niết-bàn cũng không phải là quảcủa pháp-hành bát-chánh-đạo.
Vậy, Niết-bàn chỉ là đối-tượng siêu-tam-giới của 4 Thánh-đạo-tâm, 4 Thánh-quả-tâm mà thôi.
Ví dụ nôm na rằng:
“Con đường dẫn đến kinh đô”
* Con đường ví như Bát-chánh-đạo là pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế.
* Kinh đô ví như Niết-bàn là pháp Diệt-Khổ-Thánh-đế.
Con đường dẫn đến kinh đô, chứ không phải là nhân phát sinh kinh đô.
Cũng như vậy, Pháp-hành dẫn đến Diệt-Khổ-Thánh-đế đó là pháp-hành bát-chánh-đạo là pháp-hành dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn, chứ không phải là nhân phát sinh Niết-bàn.
[1] Bộ dhammapadagāthā thứ 216



2./ Thập nhị nhân duyên (12 nhân duyên khiến chúng sanh khổ)
. Duyên vô minh
. Duyên hành
. Duyên thức
. Duyên danh sắc
. Duyên lục nhập
. Duyên xúc
. Duyên thọ
. Duyên ái
. Duyên hữu
. Duyên thủ
. Ưu bi sầu khổ
. Bệnh chết
—> Đây là tôi chỉ kể tên ra thôi. Mọi người muốn thông suốt thì phải nghiên cứu tam tạng kinh điển và tự thân-tâm chứng ngộ thiền quán, thiền định-tuệ.


3./ Nghiệp
. Nghiệp thiện
- Thiện vô lậu (không còn đau khổ không có nhân tái sanh)
- Thiện hữu lậu (còn đau khổ, có nhân tái sanh)
. Nghiệp bất thiện (ác nghiệp)


4./ Thân ngũ uẩn
.*Sắc uẩn
- Tứ đại (Đất, nước, gió, lửa)
- Ý thức
. Thọ uẩn
- Thọ lạc
- Thọ khổ
- Thọ bất lạc, bất khổ (do ngu Si, Vô minh)
. Tưởng uẩn
- 18 loại hỷ tưởng
- 33 loại tưởng
* Lưu ý:
Đối những ai tu Thiền hoặc Tịnh độ (chuyên trì Lục tự di đà) hãy cận thận tránh ức chế Tâm (hay ý thức) vì ức chế Tâm (hay Ý THỨC) thì đến một lúc nào đó Ý THỨC NGỪNG HOẠT ĐỘNG quý sẻ bị tâm SI và mọi người sẻ loạt TƯỞNG (Ý THỨC DỪNG LÀ TƯỞNG HOẠT ĐỘNG) vì có đến 18 loại hỷ tưởng hay 33 loại tưởng. Nếu mọi người tu loạt vào TƯỞNG thì đã loạt vào Tà đạo, sai pháp thì rất khó thoát ra, rất uổng công tu hành một đời của quý vị. Tôi nói ra sự thật mong quý vị Chánh kiến, Chánh duy cho rõ tường tận. Tốt nhất hãy tu theo THERAVADA.


.* Hành uẩn
- Hành động có được là do SẮC UẨN, THỌ UẨN và TƯỞNG UẨN điều khiển.
- HÀNH UẨN ví như thiên lôi, sai đâu làm đó.
* Lưu ý: Ở đây trong SẮC UẨN có Ý THỨC, vậy khi tu hành là quý vị tu bằng Ý THỨC "Ý DẪN ĐẦU CÁC PHÁP, Ý CHỦ, Ý TẠO TÁC..." chứ không được tu bằng TƯỞNG hoặc không được động tâm với cảm thọ. Trong Đạo Phật có hướng tâm, xả tâm "NHƯ LÝ TÁC Ý" rất tuyệt vời, Tôi kính mời quý đạo hữu cùng tìm hiểu và hành theo. Nhưng lưu ý, không kéo sẽ có bản ngã xen vào.

.* Thức uẩn
- Thức uẩn không phải là Ý THỨC vì Ý THỨC năm trong SẮC UẨN. Phần Thức uẩn này không hoạt động đến khi người nào đó tu đã được TAM MINH thì đánh thức thức uẩn dậy và điều khiển thức uẩn hoạt động. Thức uẩn sẽ hoạt động vượt không gian và thời gian gọi là liễu tri.
Tam minh bao gồm:
- Lậu tận minh
- Túc mạng minh
- Thiên nhãn minh
Ba minh này là người tu chứng Tâm vô lậu mới có, tức là Vị đó không còn dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Nói rõ hơn là Vị đó không còn bị ràng buộc lôi kéo bởi Bảy kiết sử, thoát khỏi sự ham muốn Ngũ dục thế gian (danh, tài, sắc, thực, thùy), Vị ấy không tham, không sân, không si, không mạn, không nghi. Muốn được như vậy phải tu theo Tam vô lậu học (GIỚI ĐỊNH TỤÊ hay gọi tóm tắt là TU HỤÊ) tức là thực hành trọn vẹn Bát chánh đạo (Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng , chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định).

"DÙ TU THEO PHÁP MÔN NÀO CŨNG PHẢI LẤY GIỚI LÀM THẦY, NƯƠNG THEO VÀ SỐNG NHƯ GIỚI, NGOÀI GIỚI QUÝ VỊ KHÔNG THỂ TÌM THẤY SỰ GIẢI THOÁT, GIỚI GIÚP CHÚNG TA LY DỤC LY ÁC PHÁP, HÃY ĐỌC KINH ƯỚC NGUYỆN TRONG TRUNG BỘ KINH HỆ PALI NIKAYA THUỘC ĐẠI KINH VIỆT NAM ĐỂ BIẾT THÊM LỚI ÍCH TO LỚN CỦA GIỚI VÀ HÃY TU GIỚI ĐỂ TỰ CHỨNG NGHIỆM CẢM GIÁC GIẢI THOÁT NGAY HIỆN TẠI "


5./ Tứ bất hoại tịnh
- Niệm Phật
- Niệm Pháp
- Niệm tăng
- Niệm giới
* Lưu ý: NIỆM ở đây không phải là cái miệng niệm hồng danh Phật, không phải miệng niệm tăng, không phải miệng niệm pháp, không phải miệng niệm giới. mà NIỆM ở đây là TƯ DUY, QUÁN XÉT VÀ SỐNG Y NHƯ PHẬT, NHƯ PHÁP, NHƯ TĂNG, NHƯ GIỚI (Quý vị chỉ cần chọn một trong bốn để sống theo).

6./ Tứ chánh cần
. Ngăn ác pháp
. Diệt ác pháp
. Sang thiện pháp
. Tăng trưởng thiện pháp
* Lưu ý: THIỆN PHÁP ở đây là THIỆN VÔ LẬU (không còn đau khổ, không còn dục lậu, không còn hữu lậu, không còn vô minh lậu) chứ KHÔNG PHẢI THIỆN HỮU LẬU (có phước báo nhưng vẫn còn đau khổ, vì thiện hữu lậu vẫn còn dục lậu, còn hữu lậu và còn vô minh lậu). Quý vị lưu ý điều này.

7./ Tứ niệm xứ
- Quán thân trên thân
- Quán thọ trên thọ
- Quán tâm trên tâm
- Quán pháp trên pháp
=> Để khắc phục tham ưu ở đời.
Gợi ý: Quý vị đọc Kinh ĐẠI NIỆM XỨ sẻ rõ.


8./ Tứ thiền
- Sơ thiền
- Nhị thiền
- Tam thiền
- Tứ thiền
* Phần này thì người CƯ SĨ tại gia chúng ta không thể chứng đạt nếu chúng ta còn sống với lối phàm tục.

9./ Tứ như ý túc
gồm có:
- Định Như Ý Túc
- Tinh Tấn Như Ý Túc
- Tuệ Như Ý Túc
- Dục Như Ý Túc.
[*] Tu đúng GIỚI, đã lỳ dục, lỳ ác pháp, tâm vô lậu, tâm thanh thịnh thì sẻ có bốn loại lực này.

10./ Ngũ căn
. Nhãn căn
. Nhĩ căn
. Tỷ căn
. Thiệt căn
. Thân căn
* Gợi ý: Đọc "37 Phẩm trợ đạo" đễ rõ.

11./ Ngũ lực
. Tín lực
. Tấn lực
. Niệm lực
. Định lực
. Tụê lực
* Gợi ý: Đọc "37 Phẩm trợ đạo" đễ rõ.


12./ Thất giác chi
. Niệm giác chi
. Tinh tấn giác chi
. Khinh an giác chi
. Hỷ giác chi
. Định giác chi
. Xả giác chi
. Trạch pháp giác chi
* Gợi ý: Đọc "37 Phẩm trợ đạo" đễ rõ.


13./ Thập thiện
* THÂN có ba nghiệp thiện
. Không sát sanh
. Không trộm cắp
. Không tà dâm
* KHẨU có ba nghiệp thiện
. Không nói dối
. Không nói lời thêu dệt
. Không nói lời lật lọng (nghĩa là không nói lưỡi đôi chiều)
. Không nói lời hung ác
* Ý có ba nghiệp thiện
- Không tham lam
- Không si mê
- Không sân giận
[*] Lưu ý: LÀ CƯ SĨ NGOÀI CHUYỆN SỐNG ĐÚNG NGŨ GIỚI THÌ QUÝ ĐẠO HỮU PHẢI HÀNH MƯỜI ĐIỀU THIỆN NÀY, NẾU SỐNG ĐƯỢC THẬP THIỆN NÀY THÌ SẼ TƯƠNG CÕI TRỜI NHƯ TÔI Ở TRÊN LÚC NÃY. NẾU QUÝ VỊ KHÔNG HÀNH MƯỜI ĐIỀU THIỆN NÀY THÌ ĐỒNG NGHĨA LÀ QUÝ ĐANG LÀM MƯỜI ĐIỀU ÁC ĐỒNG NGHĨA VỚI ĐỊA NGỤC.

Tôi xin trích bài kệ của Ba Giá Tuần đọc cho Tôn giả Tu Bồ Đề nhằm trợ duyên để Tu Bồ Đề tu hành diệt trừ các bệnh khổ.
"NGIỆP LÀNH THOÁT CÁC PHƯỚC,
Ở TẠI NÚI LINH THỨU
THƯỜNG MẮC BỆNH CỰC TRỌNG
KHÔNG ƯA CÁC CĂN BỆNH
TRÔNG DUNG NHAN THƯỢNG TÔN
ĐÃ THU ĐƯỢC PHƯỚC LỚN,
TRỒNG ĐỨC ĐÂU HƠN ĐÂY"

Trích từ kinh "Tăng Nhất A Hàm".
- NGHIỆP LÀNH: ở trong bài kệ trên từc là MƯỜI ĐIỀU LÀNH (THẬP THIỆN) đó thưa quý vị.
- CÁC PHƯỢC: ở trong bài kệ trên tức là bệnh tật, sầu ưu, nản khổ của quý vị đang mang.
- Quý vị hành theo mười điều lành thì có quả phước lớn, đức lớn hơn cả việc quý đi làm từ thiện xã hội đó.

14./ Nhân quả luân hồi
Tu theo Phật quý vị phải thông suốt luật nhân quả
Nhân nào quả nấy
Làm ác nhận quả báo ác
Làm thiện thì nhận quả lành
"Ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng"
Gieo hạt xoài thì nhận quả xoài.
Chứ không thẻ nào gieo hạt ớt mà nhận quả xoài được.

Phật không cứu khổ, ban vui bằng tha lực vì Phật không thể làm trái luật nhân quả được. Phật chỉ THÂN GIÁO và THUYẾT GIÁO mà thôi.

Phật nói: "TA KHÔNG CỨU KHỔ CÁC CON ĐƯỢC, CÁC CON HÃY TỰ MÌNH THẮP LÊN MÀ ĐI"
ĐUỐC ở đây nghĩa GIÁO PHÁP của Phật. Đó là BÁT CHÁNH ĐẠO (GIỚI - ĐỊNH - TỤÊ hay gọi tắt là TU HỤÊ) hay Tứ niệm xứ.

Hãy tự lực, tự tu tập ly dục, ly ác pháp nhận ra chân đế.

15./ Tam minh
- Lậu tận minh
- Túc mạng minh
- Thiên nhãn minh
—> Đừng quan tâm cái này, "nước trong trăng hiện".


16./ Tứ vô lượng tâm
- Từ vô lượng tâm
- Bi vô lượng tâm
- Hỷ vô lượng tâm
- Xả vô lượng tâm
[*] Đó là tất cả những pháp Phật dạy. Tôi giới thiệu sơ qua chứ không nói rõ từng pháp, người cư sĩ đến với đạo Phật CẦN THÔNG HIỂU NHỮNG Gì PHẢI THÔNG HIỂU, tức là thông hiểu 16 pháp Phật dạy như đã nêu ở trên, lúc bấy giờ người cư sĩ sẽ TìM HIỂU TỪNG PHÁP đó như thế nào để người cư sĩ hiểu rõ ràng, coi có phải cái đó CÓ HỢP VỚI MìNH KHÔNG, có phải là ƯỚC VỌNG CỦA MìNH TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG MìNH GỬI THÂN TÂM VÀO ĐÓ ĐỂ TU HÀNH không?
- Sau khi NGHIÊN CỨU THÔNG SUỐT được rồi, thấy 16 pháp này PHÙ HỢP VỚI ƯỚC VỌNG, NGUYỆN VỌNG CỦA MìNH thì NGƯỜI CƯ SĨ đó mới TIẾP TỤC TRAU DỒI NHỮNG Gì MÀ MìNH ĐÃ TìM HIỂU được trong NHỮNG PHÁP TRAU DỒI.
- Chứ không phải bây giờ tôi ngồi thiền, nhập định hoặc nghiên cứu như vậy rồi tôi tu Tứ thiền hoặc dùng Tứ Như Ý Túc hoặc là tôi dùng những điều kiện cao siêu thì nó không đúng cách đâu.
- Cho nên ở đây khi được nghiên cứu kỹ như vậy rồi thì bắt đầu phải tu tập cái gì đây, phải trau dồi những cái gì đây?
- Đó là những điều kiện cần phải phân minh, cần phải rõ ràng, đúng đường lối tu tập. Chứ nếu không phân minh, không rõ ràng đường lối tu tập như vậy thì chắc chắn là người cư sĩ nhào vô chẳng biết đường lối nào mà tu.

Lời Phật dạy: [ SỰ KIỆN CHÚNG TA KHI TU CẦN PHẢI QUAN SÁT

Có năm sự kiện này, này các Tỷ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?
1. "Ta phải bị già, không thoát khỏi già" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
2. "Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
3. "Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
4. "Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt", là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
5. "Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. (...)

Phật dạy:
"...Giới luật còn là đạo ta còn, giới luật mất là đạo ta mất..."
"...Các con hãy tự thắp đuốc lên mà đi, ta không cứu khổ các con được..."
"PHÁP TA THIẾT THỰC HIỆN TẠI, CÓ QUẢ TỨC THÌ, KHÔNG CÒ THỜI GIAN ĐẾN ĐỂ MÀ THẤY ĐƯỢC NGƯỜI CÓ TRÍ TỰ MÌNH GIÁC NGHIỆM" ]
Khi tu thì phải thật tu, không tu thì phải tôn trọng chánh pháp các bạn ạ!.
Nói ít thì phải tự tư duy hiểu nhiều. Ai có thắc mắc thì trao đổi ôn hòa với nhau. Ai không tu hành thì đừng bình luận.

Lưu ý:
. Đọc để mà thấy ra sự thật, tôi không ép ai phải tin tôi ngay nhưng mọi người phải tin Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tin giáo pháp có thể giúp ta giác ngộ - giải thoát.
. Hãy đối chiếu bài viết của tôi với Tam tạng kinh điển để lòng tin có cơ sở chân chánh.
. Là người thì giữ cơ bản nhất là năm giới để có thể sanh làm người.



Namo Tassa bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa
Namo Tassa bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa
Namo Tassa bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa
Namo Tassa bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT


BÀI VIẾT LÀ CUỘC NÓI CHUYỆN CHIA SẺ. KHÔNG BÀN CHÍNH TRỊ, KHÔNG PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC.


Cittasamādhi Tâm Định

Ý kiến bạn đọc

TÌM KIẾM BÀI THƠ
Nhập từ khóa:
Tìm kiếm