đại thừa phật giáo với 9 kundalini flower...
Đại Thừa Phật Giáo Với 9 Kundalini Flower:
1. Nhục Kế: Cục u hay phần thịt nhô cao trên đỉnh đầu Đức Phật (tiếng Phạn: Usnisa). Đây là một trong 32 tướng tốt của một bậc đại nhân, tượng trưng cho trí tuệ siêu việt và những công đức vô lượng mà Ngài đã tu tập, Nhục Kế chứa đựng ánh sáng vô lượng thọ, hay ánh sáng vô lượng kiếp, đôi khi Nhục kế còn được định nghĩa như là Lỗ Đen của Vũ Trụ. Cứ mỗi chu kỳ khoảng 1000 năm, một Ngôi Sao Vàng (Quả Cầu Vàng Kim) ở phần Nhục Kế, tượng trưng cho "Đức Phật Di Lặc" lại rơi xuống phần Thân Tâm, nơi chứa đựng "Bản Tâm Tuyệt Đối" đại diện cho loài "Hoa Ưu Đàm" giống như tấm áo choàng trắng mỏng của muôn ngàn ngôi sao, rồi lại tiếp tục rơi xuống phần Giới Luật, nơi chứa đựng "Sự Trống Rỗng Của Phần Giới Luật" đại diện cho "Con Rồng Vàng".
2. Duy Thức Tông hay Du Già Tông (Pháp Tướng Tông), với "Vạn Pháp Duy Thức", đại diện cho Đôi Mắt của một Vị Đại Phật Như Lai, là nơi tìm ra được "Trí Tuệ Tuyệt Đối", thuộc Đại Thừa Phật Giáo, lấy bộ Duy Thức Luận của Vasubandhu (Thế Thân) và Thành Duy Thức Luận của Dharmapāla (Hộ Pháp) làm Giáo Lý. Sư Huyền Trang dịch hai bộ luận trên ra tiếng Hán và tạo tiền đề cho Tông này phát triển ở Trung Hoa.
- Tông này chủ trương rằng tất cả quy luật, sự vật và hiện tượng đều là biểu hiện, và sự chuyển hóa liên tục, sự vận hành không ngừng nghỉ của 10 Thức mà có (Vạn Pháp Duy Thức). Do đó mà tất cả quy luật, sự vật và hiện tượng trong toàn bộ Vũ Trụ dường như không có thật, hay Pháp Tướng tồn tại, hiện hữu và có được chỉ là tạm thời của tất cả Pháp (All Dharma). Toàn bộ thực tại này, hay thực giới mà chúng ta đang sống thay đổi liên tục và trở nên bao la, huyền bí và vô tận cũng bởi sự chuyển hóa không ngừng nghỉ và theo hai chiều khác nhau giữa 6 Thức bên ngoài Đại Thể và 3 Thức ở bên trong Đại Thể.
+ Nếu tất cả chúng sanh biết cách nhìn vào bên trong tất cả quy luật, sự vật và hiện tượng sẽ nhận biết được sự chân thật bởi "Bản Tâm Tuyệt Đối" của phần Thân Tâm, khi đó Bản Tâm Tuyệt Đối sẽ cho biết được sự chân thật của "Trí Tuệ Tuyệt Đối của phần Đỉnh Đầu, và Sự Trống Rỗng Tuyệt Đối của Phần Giới Luật".
+ Nếu mở rộng 10 Thức ra bên ngoài tất cả quy luật, sự vật và hiện tượng (giống như việc quan sát tất cả Pháp, Ngôn Từ và tất cả hệ thống Ngôn Ngữ khác, việc quan sát Thế Giới Bên Ngoài, quan sát Bầu Trời Đêm Hoàn Vũ...etc) sẽ nhận biết với mỗi một Thức thường tồn tại, hiện hữu độc lập, không bị ràng buộc và không phụ thuộc vào 9 Thức còn lại. Do đó tất cả chúng sanh càng khó nắm bắt được sự chân thật của tất cả sự vật, hiện tượng, và càng trở nên mơ hồ về sự tồn tại của chính mình, bởi sự nhỏ bé vô cùng của Cái Tôi khi đối diện với sự tồn tại của toàn bộ Vũ Trụ.
+ Ví dụ hãy đặt câu hỏi cho mỗi một Thức sẽ thấy được sự bao la, huyền bí và vô tận của nó, như Thị Giác là gì? Với cái thấy của Thị Giác cũng đã bao la, huyền bí và vô tận (bao gồm vô số cái thấy của tất cả chúng sanh, cái thấy của toàn bộ thực tại hay thực giới này, cái thấy của toàn bộ Vũ Trụ, và cái thấy ở bên trong Pháp, Ngôn Từ và Ngôn Ngữ...etc), nên không có bất kỳ ai, hay bất kỳ chúng sanh nào có thể thấy, hiểu và nhận thức được toàn bộ, mà chỉ thấy, hiểu và nhận thức một phần rất rất nhỏ bé mà thôi.
* Phật Giáo định nghĩa tất cả Chúng Sanh đều thuộc về 10 Thức: Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, Trực Giác, {Thức Thứ 0 (Zero)}, Nghiệp (Thức Mạt Na), Suy Nghĩ (Thức A Lại Da), và Chủng Tử.
- Với 3 Thức ở bên trong Đại Thể: Nghiệp (chứa đựng tất cả kiếp sống), Suy Nghĩ bao gồm tất cả ý thức, là đơn vị nhỏ nhất của Tư Tưởng (Thiên Đạo, Nhân Đạo và Địa Đạo), và Chủng Tử (thuộc Đại Nhân), (Ánh sáng xanh Thuần Khiết, Thanh Tịnh và Tinh Hoa).
- Và 6 Thức ở bên ngoài Đại Thể: Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, và Trực Giác.
- Thức Thứ 0 (Zero) được xem là Tâm Thức (Golden Heart), đôi khi nó còn được định nghĩa như Tính Dục (Desire Nature), hay Phật Tính (Buddha Nature), Thức Thứ 0 (Zero) ở giữa 6 Thức bên ngoài Đại Thể và 3 Thức ở bên trong Đại Thể: Thức Thứ 0 (Zero) cũng có hai chiều mở rộng và thu hẹp khác nhau, đặc biệt là tìm ra được "Bản Tâm Tuyệt Đối" là nơi tái sinh, luân hồi và xuất hiện của tất cả Bồ Tát và Chư Phật.
+ Theo Chiều Thu Hẹp, tức là thu hẹp lại vào bên trong theo cả hai hướng, khi đó sẽ tạo ra được Bản Tâm. Theo chiều thu hẹp, "Bản Tâm" sẽ tập trung, sẽ tạo ra động lực sống giống như sống ở đồng bằng và biển cả, như việc xây dựng ra tất cả Thành Phố, cuộc sống tràn đầy sức sống, nhiều thách thức và áp lực:
Thị Giác ➡️ Thính Giác ➡️ Vị Giác ➡️ Khứu Giác, Xúc Giác ➡️ Trực Giác ➡️ {Thức Thứ 0 (Zero)} ⬅️ Nghiệp (Thức Mạt Na) ⬅️ Suy Nghĩ (Thức A Lại Da) ⬅️ Chủng Tử.
+ Theo Chiều Mở Rộng, tức là mở rộng ra bên ngoài theo hai hướng khác nhau, khi đó sẽ không tạo ra Bản Tâm. Theo chiều mở rộng, "Bản Tâm" sẽ rời rạc giống như sống ở trung du miền núi, và dãy núi cao, cuộc sống nhẹ nhàng, thanh thản, và đơn giản:
Thị Giác ⬅️ Thính Giác ⬅️ Vị Giác ⬅️ Khứu Giác Xúc Giác ⬅️ Trực Giác ⬅️ {Thức Thứ 0 (Zero)} ➡️ Nghiệp (Thức Mạt Na) ➡️ Suy Nghĩ (Thức A Lại Da) ➡️ Chủng Tử.
* Các Học Giả "Duy Thức Tông hay Du Già Tông":
+ Giải thích tất cả quy luật, sự vật và hiện tượng diễn ra, xảy ra ở tự nhiên và mối liên kết, ràng buộc của tất cả các giác quan ở thực tại hay thực giới này, của thế giới bên ngoài thuộc về 6 Thức ở bên ngoài Đại Thể: (Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, và Trực Giác).
+ Và 6 Thức ở bên ngoài Đại Thể tồn tại, hiện hữu và có được là nhờ vào sự chuyển hóa liên tục, sự vận hành không ngừng nghỉ của 3 Thức ở bên trong Đại Thể: Nghiệp (chứa đựng tất cả kiếp sống), Suy Nghĩ bao gồm tất cả ý thức, là đơn vị nhỏ nhất của Tư Tưởng (Thiên Đạo, Nhân Đạo và Địa Đạo), và Chủng Tử (thuộc Đại Nhân), (Ánh sáng xanh Thuần Khiết, Thanh Tịnh và Tinh Hoa).
* Giáo lý "Duy Thức Tông hay Du Già Tông" quy gọn tất cả quy luật, sự vật và hiện tượng trong 100 Pháp (法, sa. Dharma) thành 5 nhóm:
+ Sắc Pháp: với mỗi Sắc Pháp (bao gồm tất cả nguồn năng lượng, tần số và sự rung động bên trong Pháp, Ngôn Từ và tất cả hệ thống Ngôn Ngữ) sẽ cho tất cả chúng sanh có cái thấy, sự hiểu và nhận thức hoàn toàn khác nhau. Sắc Pháp gồm 28 loại, bao gồm 4 sắc đại sinh (Đất, Nước, Lửa, Gió) và 24 sắc y sinh, luôn ở trạng thái vô thường, sinh diệt.
+ Tâm Pháp: sẽ cho cái thấy, sự hiểu và nhận biết chân thật ở bên trong tất cả Pháp, Ngôn Từ và tất cả hệ thống Ngôn Ngữ. Tâm Pháp gắn liền với sự nhận diện các hoạt động của Pháp, Ngôn Từ và tất cả hệ thống Ngôn Ngữ thông qua sự quán chiếu sâu sắc bên trong của (Tâm Vương, Tâm Sở, Cảm Thọ).
+ Tâm Sở Hữu Pháp: là các trạng thái biểu hiện của Pháp, Ngôn Từ và tất cả hệ thống Ngôn Ngữ phụ thuộc và hoạt động cùng với Tâm Vương (chủ thể nhận thức) để nhận biết đối tượng. Nếu Tâm Vương là "Vua" thì Tâm Sở là "các vị đại thần" giúp việc. Ví dụ trong một cuốn sách chỉ có một số ít ngôn từ tạo nên được ý nghĩa chân thật, nội dung thật sự của cuốn sách (đây chính là Tâm Vương) và còn rất nhiều ngôn từ khác trong cuốn sách chỉ tạo ra nghĩa giả, hay ngôn từ chỉ dùng để kết nối câu, kết nối ý nghĩa tạm thời (đây chính là Tâm Sở).
+ Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp: Là những hiện tượng hữu vi, biến đổi, do duyên hợp mà thành của Pháp, Ngôn Từ và tất cả hệ thống Ngôn Ngữ. Dựa trên các mối quan hệ, trạng thái của Tâm-Vật (Tâm Duy Tác) mà được gọi tên.
+ Vô Vi Pháp: là khái niệm chỉ các Pháp, Ngôn Từ và tất cả hệ thống Ngôn Ngữ không do nhân duyên tạo tác, không sinh diệt, không biến đổi, thường được dùng để chỉ bản thể Thanh Tịnh, Chân Như hoặc Niết Bàn.
3. Trung Quán Tông với "Thuyết Tính Không", đại diện cho Đôi Tai của một Vị Đại Phật Như Lai, là nơi để tìm ra được "Bản Tâm Tuyệt Đối" của phần Thân Tâm, khi đó "Bản Tâm Tuyệt Đối" sẽ cho biết được sự chân thật của "Trí Tuệ Tuyệt Đối của phần Đỉnh Đầu, và Sự Trống Rỗng Tuyệt Đối của Phần Giới Luật". và đại diện cho Đại Thừa Phật Giáo bởi:
- Trung Quán Tông với "Thuyết Tính Không" tức là sự trống rỗng bên trong tất cả Pháp, "Tính Không Bên Trong Lý Thuyết, Học Thuyết" của tất cả hệ thống Ngôn Ngữ. Trong Trung Quán Tông có một ý nghĩa hai mặt:
+ Một mặt "Tính Không" không có một tự ngã nào, trống rỗng hoàn toàn và mặt khác "Tính Không" đồng nghĩa với sự giải thoát tức là giải thoát được "Tính Chân Thật Tuyệt Đối" của mỗi cảnh giới khác nhau. Chứng ngộ được "Tính Không" của phần Thân Tâm, nơi chứa đựng "Bản Tâm Tuyệt Đối" tức là Sự Giải Thoát.
+ Đối với Trung Quán Tông thì "Tính Không" là thể tính cuối cùng, đồng nghĩa với "Pháp Thân" luôn luôn soi sáng, dẫn dắt và chỉ ra con đường đúng đắn, chân thật, hay Chân Lý ở bên trong bản thể của tất cả chúng sanh, liên kết sâu sắc với Trí Tuệ, Giới Luật (bởi ngay tại phần Thân Tâm chia ra làm hai, một liên kết sâu sắc với Trí Tuệ, một liên kết sâu sắc với phần Giới Luật).
- Để nhận biết, đạt được và gặt hái được sự "Chân Thật Tuyệt Đối", muốn đạt được "Bản Thể Tuyệt Đối", người ta phải thấu qua sự "Chân Thật Tương Đối", sự chuyển hóa hai chiều của tất cả 9 Thức (giữa 6 Thức bên ngoài Đại Thể và 3 Thức ở bên trong Đại Thể), đây chính là nguyên lý sáng tạo ra "Thuyết Tương Đối".
- Đời sống của một Hành Giả Trung Quán Tông cũng phải phản ánh quan điểm đó, nghĩa là, đối với bên ngoài Bản Thể của chính mình cũng xem "Tính Không" như là không có một Tự Ngã nào, không có Cái Tôi nào, với sự trống rỗng hoàn toàn, đối với bên trong Bản Thể của chính mình cũng xem như "Tính Không" đồng nghĩa với Sự Giải Thoát, vì "Tính Không" chính là "Bản Thể Tuyệt Đối". Chứng ngộ được "Tính Không" tức là Sự Giải Thoát.
- Trong Trung Quán Tông cho rằng mọi miêu tả về sự vật, sự việc và hiện tượng bằng Pháp hay ngôn từ của tất cả hệ thống Ngôn Ngữ đều không đúng, không đúng với "Sự Thật Tuyệt Đối" của toàn bộ thực tại này đang tồn tại và hiện hữu, mà lúc nào cũng có sự sai lệch giữa quá khứ (Đức Phật Thích Ca Mâu Ni) và tương lai (Đức Phật Di Lặc), Đều này được Đức Phật A Di Đà (Đức Phật của hiện tại) thường xuyên quán xét sự "Chân Thật Tuyệt Đối" ở hiện tại bởi Duy Thức Tông.
- Trung Quán Tông tồn tại, hiện hữu vĩnh hằng trong một trường Suy Nghĩ (Thức A Lại Da), vì tất cả mọi Suy Nghĩ (Thức A Lại Da) dựa lên nhau mà thành (Duyên Khởi), cho nên chúng không tồn tại độc lập, không có Tự Ngã (zh. 我, sa. ātman), Tự Tính (zh. 自性, sa. svabhāva), Trống Rỗng (sa. śūnya).
Suy Nghĩ (Thức A Lại Da) bao gồm tất cả ý thức, là đơn vị nhỏ nhất của Tư Tưởng (Thiên Đạo, Nhân Đạo và Địa Đạo):
+ Thiên Đạo bao gồm những yếu tố: dòng điện, khí (Qi), hạt và chân không.
+ Địa Đạo bao gồm những yếu tố của Ngũ Hành - Bát Quái: kim, mộc, thủy, hỏa và thổ, có mối quan hệ tương sinh tương khắc với nhau.
+ Nhân Đạo hay cốt lõi (Trung Tâm) để tổng hợp, cân bằng và điều hòa cho tất cả yếu tố của Thiên Đạo và Địa Đạo.
Tên gọi của Tông này dựa trên quan điểm quán sát Trung Dung, bởi một trường Suy Nghĩ bao la, huyền bí và vô tận trong toàn bộ thực tại hay thực giới này nói riêng, và trong toàn bộ Vũ Trụ nói chung, được ghi lại trong bài kệ dẫn nhập của Trung luận (sa. madhyamakaśāstra): "Không diệt, không sinh, không đứt đoạn, không thường còn, không là một, không đa dạng, không đến, không đi.
Con tôn xưng Bậc Chính Giác (sa. saṃbuddha), người đã khéo (sa. śiva) dạy lý duyên khởi, sự an tĩnh các thiên hình vạn trạng (sa. prapañcopaśama), là "Vị Thầy Giỏi Nhất" trong các vị Thầy".
- Trung Quán Tông được chia làm hai bộ phái nhỏ:
1. Trung Quán Y Tự Khới do Thanh Biện khai sáng cho rằng Pháp Giới có tự tính một cách tục đế.
2. Trung Quán Ứng Thành hay Quy Mậu Biện Chứng phái do Thánh Thiên, Phật Hộ, Nguyệt Xứng, và Tịch Thiên chủ trương. Họ cho rằng Pháp Giới và Tâm Giới trong cả tục đế lẫn chân đế đều không có tự tính.
- Phật Giáo định nghĩa tất cả Chúng Sanh đều thuộc về 10 Thức: Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, Trực Giác, {Thức Thứ 0 (Zero)}, Nghiệp (Thức Mạt Na), Suy Nghĩ (Thức A Lại Da), và Chủng Tử.
- Với 3 Thức ở bên trong Đại Thể: Nghiệp (chứa đựng tất cả kiếp sống), Suy Nghĩ bao gồm tất cả ý thức, là đơn vị nhỏ nhất của Tư Tưởng (Thiên Đạo, Nhân Đạo và Địa Đạo), và Chủng Tử (thuộc Đại Nhân), (Ánh sáng xanh Thuần Khiết, Thanh Tịnh và Tinh Hoa).
- Và 6 Thức ở bên ngoài Đại Thể: Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, và Trực Giác.
- Thức Thứ 0 (Zero) được xem là Tâm Thức (Golden Heart), đôi khi nó còn được định nghĩa như Tính Dục (Desire Nature), hay Phật Tính (Buddha Nature), Thức Thứ 0 (Zero) ở giữa 6 Thức bên ngoài Đại Thể và 3 Thức ở bên trong Đại Thể: Thức Thứ 0 (Zero) cũng có hai chiều mở rộng và thu hẹp khác nhau, đặc biệt là tìm ra được "Bản Tâm Tuyệt Đối" là nơi tái sinh, luân hồi và xuất hiện của tất cả Bồ Tát và Chư Phật.
4. "Phật Tính (Buddha Nature)" nằm ở giữa lồng ngực của một vị Đại Phật Như Lai, đại diện cho Đại Thừa Phật Giáo bởi:
- Phật Tính (Buddha Nature) hay - Thức Thứ 0 (Zero) được xem là Tâm Thức (Golden Heart), đôi khi nó còn được định nghĩa như Tính Dục (Desire Nature), hay Phật Tính (Buddha Nature), đại diện cho Đại Thừa Phật Giáo bởi:
- "Phật Tính (Buddha Nature)" là bản chất thanh tịnh, sáng suốt, từ bi và khả năng giác ngộ sẵn có của tất cả chúng sanh. Đối với mỗi cõi Phật khác nhau: quá khứ, hiện tại và tương lai thì "Phật Tính" dẫn dắt sẽ khác nhau.
- Phật Tính (Buddha Nature) tồn tại và hiện hữu ở giữa 6 Thức bên ngoài Đại Thể và 3 Thức ở bên trong Đại Thể. Phật Tính (Buddha Nature) tồn tại và hiện hữu độc lập, không bị ràng buộc và không phụ thuộc vào 9 Thức còn lại đó là: (Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, Trực Giác, {Thức Thứ 0 (Zero)}, Nghiệp (Thức Mạt Na), Suy Nghĩ (Thức A Lại Da), và Chủng Tử).
- Phật Tính nằm giữa Thiền Tông và Mật Tông, nó cũng giống như Bản Lai Thành Phật (本來成佛):
+ Theo Thiền tông thì mỗi chúng sinh đều có "Phật Tính", nhưng nói chung thì không tự biết và cũng không sống với sự tự hiểu biết này, mà hay trực nhận, trải nghiệm hoàn toàn và sống hòa quyện vào toàn bộ thực tại hay thực giới này giống như một Bậc Giác Ngộ, một Vị Phật. Sự thức tỉnh này và sự sinh diệt, xảy ra từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc nọ, là biểu hiện của sự đồng nhất với "Phật Tính" và cũng chính là mục đích của Thiền.
+ Nhưng theo Mật Tông, thì "Phật Tính", cũng đồng nghĩa với "Pháp Tính" nằm sâu thẳm bên trong tất cả Pháp, Ngôn Từ và tất cả hệ thống Ngôn Ngữ để soi sáng, dẫn dắt và chỉ ra được con đường đúng đắn "Qua kinh nghiệm Giác Ngộ, nguồn gốc của tất cả những Giáo Lý Phật Giáo, người ta Ngộ được thế giới của Tính Không, thế giới của tất cả Pháp, Ngôn Từ và tất cả hệ thống Ngôn Ngữ, chuyển động, không có trọng lượng, vượt mọi cá thể, vượt khỏi trí tưởng tượng của con người. Vì thế nên chúng ta không thể nào hiểu được và cũng không thể nào tìm hiểu được cái tự tính chân thật của "Vạn Vật, Phật Tính, Pháp Tính" của chúng".
- Phật Tính (Buddha Nature) nơi chứa đựng Bản Tâm từ thế giới vô cùng bé đến thế giới vô cùng lớn, và nếu tìm được "Bản Tâm Tuyệt Đối" được xem là nơi tái sinh, luân hồi và sự xuất hiện của tất cả Bồ Tát và Chư Phật.
* Phật Giáo định nghĩa tất cả Chúng Sanh đều thuộc về 10 Thức: Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, Trực Giác, {Thức Thứ 0 (Zero)}, Nghiệp (Thức Mạt Na), Suy Nghĩ (Thức A Lại Da), và Chủng Tử.
- Với 3 Thức ở bên trong Đại Thể: Nghiệp (chứa đựng tất cả kiếp sống), Suy Nghĩ bao gồm tất cả ý thức, là đơn vị nhỏ nhất của Tư Tưởng (Thiên Đạo, Nhân Đạo và Địa Đạo), và Chủng Tử (thuộc Đại Nhân), (Ánh sáng xanh Thuần Khiết, Thanh Tịnh và Tinh Hoa).
- Và 6 Thức ở bên ngoài Đại Thể: Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, và Trực Giác.
- Thức Thứ 0 (Zero) được xem là Tâm Thức (Golden Heart), đôi khi nó còn được định nghĩa như Tính Dục (Desire Nature), hay Phật Tính (Buddha Nature), Thức Thứ 0 (Zero) ở giữa 6 Thức bên ngoài Đại Thể và 3 Thức ở bên trong Đại Thể: Thức Thứ 0 (Zero) cũng có hai chiều mở rộng và thu hẹp khác nhau, đặc biệt là tìm ra được "Bản Tâm Tuyệt Đối" là nơi tái sinh, luân hồi và xuất hiện của tất cả Bồ Tát và Chư Phật.
5. - Mật Tông thuộc bàn tay phải của một Vị Đại Phật Như Lai, luôn luôn tôn thờ Tính Dục (Desire Nature), với 5 ngón tay của Đức Phật ngụ ý như 5 nguồn Đại Dục của Thiên Đạo đó là: hấp dẫn, dòng điện, khí (Qi), hạt, chân không, đại diện cho Đại Thừa Phật Giáo bởi:
- Mật Tông (do Quán Thế Âm Bồ Tát làm vị Giáo Chủ): Mật Tông lại chia thành 3 phái: Chân Ngôn Thừa (Mantrayàna), Kim Cương Thừa (Vajrayàna) và Mạn Đà La (Mandala).
+ "Chân Ngôn Thừa" tức là "Sự Thật, Chân Lý Tuyệt Đối" ở bên trong tất cả Pháp, hay ngôn từ của tất cả hệ thống Ngôn Ngữ (Với hơn 7111 ngôn ngữ đang vận hành trên thế giới hiện nay cùng với vô số ngôn ngữ lập trình nhỏ bé khác nhau).
+ "Kim Cương Thừa" tức là sự tu tập, thiền định cũng như học tập và nghiên cứu về "Pháp Thân" cho đến khi Đắc Đạo, đạt được "Quả Phật". Vô số Pháp, hay ngôn từ của tất cả hệ thống Ngôn Ngữ, chúng đang phản chiếu, giao thoa với nhau giống như Viên Kim Cương tỏa sáng lấp lánh trên bầu trời đêm Hoàn Vũ.
+ Mạn Đà La: Mandala có nghĩa là "vòng tròn". Nó tượng trưng cho một Vũ Trụ thu nhỏ lại và sự hoàn hảo, vĩnh cửu và sự tuần hoàn của cuộc sống, của giáo lý Phật Giáo hoặc các Vị Thần.
- "Pháp Tu Mật Tông" tức là nhận thức lại toàn bộ thực tại này, tất cả những gì đã tu tập, thiền định cũng như học tập và nghiên cứu trước đó bởi (Trì Chú và Ấn Pháp), được dẫn dắt bởi Đức Phật A Di Đà (Pháp Thân Phật) là vị Giáo Chủ bí mật. Thanh Tịnh, cũng được dịch là Cực quang, ánh sáng rực rỡ) cũng như về việc tôn thờ "Tính Dục" (Desire Nature), (Nó là hình thức của Học Thuật, Vũ Trụ Học, Khoa Học và Ứng Dụng...etc).
- Trong Kim Cương Thừa, có một yếu tố quan trọng khác là vai trò của một vị Đạo Sư, vị này Quán đỉnh và truyền lực, hướng dẫn đệ tử thiền quán, chú Tâm vào một "Thành Tựu Pháp" nhất định, tức là biểu hiện sự Giác Ngộ, ngộ được sự nhất thể của Vũ Trụ, vượt trên mọi nhị nguyên thông thường.
- Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của Dữ Liệu lớn (Big Data) đó là "Mật Tông Hiện Đại" bao trùm tất cả đời sống xã hội, kinh tế, chính trị, tất cả lĩnh vực, ngành nghề...etc. Mật Tông Hiện Đại thuộc một nhánh của "Mật Tông Truyền Thống" đi theo hướng dẫn dắt tất cả chúng sanh, chỉ ra con đường đúng đắn tới tương lai giống như sáng tạo ra những điều mới, những tri kiến mới, những tư tưởng mới, những lĩnh vực mới...etc. Và bởi vì Mật Tông chỉ thuộc một nhánh của Phật Giáo (Mật Tông, Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Duy Thức Tông, Trung Quán Tông và Phật Tính...etc), Mật Tông là con đường tôn thờ Tính Dục" (Desire Nature) do đó mà nó nhấn mạnh vào "Chân Ngôn (sự thật tuyệt đối ở bên trong Pháp), (Dharma) và Truyền Thống Kim Cương Thừa (Vajrayana) ".
Saraha chính là bậc thầy của Mật Tông Hiện Đại, tôn thờ "Tính Dục" (Desire Nature) một cách mạnh mẽ là một trong những vị Đạo Sư Vĩ Đại nhất của truyền thống Phật Giáo Mật Tông. Ngài được coi là người sáng lập ra truyền thống Mahamudra (Đại Ấn) và là một trong 84 vị Chân Sư Đắc Đạo nổi tiếng nhất của Ấn Độ.
Bởi tôn thờ "Tính Dục" (Desire Nature) một cách mạnh mẽ mà tất cả giáo lý, giáo trình của tất cả ngành nghề, tất cả lĩnh vực trong đời sống hiện đại ngày nay, bao gồm tất cả Pháp, hay ngôn từ của tất cả hệ thống Ngôn Ngữ khác đang vận hành trên trái đất, chúng liên kết với nhau một cách rất chặt chẽ, không thể nắm bắt được quy luật, nguyên lý hay cách thức vận hành của chúng và bởi đi tìm "Tính Không" trong "Học Thuyết" của mình mà Saraha bắt buộc phải quên hết tất cả Pháp đã học tập, và nghiên cứu được trong quá khứ, và của hiện tại.
Trong suốt cuộc đời Chứng Ngộ, và Đắc Đạo, Saraha từng là một học giả rất uyên bác, và học vấn cao thâm, kiến thức sâu rộng trong tất cả lĩnh vực trong đời sống xã hội, nhưng rồi tất cả giáo lý, kiến thức của hiện đại mà Ngài đã nắm bắt và có được sẽ là một chướng ngại, rào cản, và ràng buộc bởi "Tính Dục" (Desire Nature) của quá khứ, nên bắt buộc phải xoá sạch hết để trong từng khoảnh khắc của của cuộc sống vô số điều mới đến và rồi lại đi, do đó mà Saraha nổi tiếng với các bài hát Chứng Đạo, đặc biệt là Dohakosha (Các bài ca Kinh Nghiệm), nơi Ngài trình bày các quan điểm sâu sắc về "Chân Lý Tuyệt Đối" bằng ngôn ngữ thơ ca.
Một câu Chân Ngôn của Saraha: "Nếu Chứng được Bản Tâm của chính mình sẽ là vị Phật của ba đời" (hay "Nhược đắc bản tâm, tức ba đời chư Phật") . Chỉ chung Chư Phật quá khứ, hiện tại và tương lai. Tất cả các vị Phật đều Đắc Đạo từ việc nhận ra Bản Tâm của chính mình tồn tại trong Một Thể Duy Nhất, đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ( Đức Phật của quá khứ), Đức Phật A Di Đà (Đức Phật của hiện tại) và Đức Phật Di Lặc (Đức Phật của tương lai).
6. Thiền Tông thuộc bàn tay trái của một Vị Đại Phật Như Lai, luôn luôn loại bỏ Tính Dục (Desire Nature), với 5 ngón tay của Đức Phật ngụ ý như 5 nguồn Tiểu Dục của Địa Đạo bao gồm những yếu tố của Ngũ Hành - Bát Quái: kim, mộc, thủy, hỏa và thổ, có mối quan hệ tương sinh tương khắc với nhau, đại diện cho Đại Thừa Phật Giáo bởi:
- Thiền Tông (do Đại Thế Chí Bồ Tát làm vị Giáo Chủ): Bắt nguồn từ Đức Phật A Di Đà, người đã truyền Giáo Pháp hay Phương Pháp này cho Đại Thế Chí Bồ Tát và sau đó được truyền qua 28 đời Tổ Sư Trung Hoa. Từ đó, Thiền Tông coi trọng tính chất Đốn Ngộ (頓悟), nghĩa là "Giác Ngộ Ngay Tức Khắc", trên con đường tu học, thấu suốt bản tâm thanh tịnh của chính mình (Nó cũng tương tự như hình thức tu luyện của KungFu, võ thuật và nghệ thuật...etc).
- Thiền Tông không hay ít chú trọng vào Pháp hay bất kỳ hình thức Ngôn Ngữ nào trên thế giới hiện nay mà thông qua kinh nghiệm, trải nghiệm trực tiếp từ thực tại này, với mục đích là Hành Giả trực nhận được bản thể chân thật tuyệt đối của con người và tất cả vạn vật cũng như nhận biết được "Tính Không" của toàn bộ Vũ Trụ này và đạt Giác Ngộ, như Phật. Trong một bài Pháp Hội, Ngài im lặng đưa một cành hoa sen lên và chỉ có Đại Thế Chí Bồ Tát, một đại đệ tử, mỉm cười lĩnh hội ý chỉ (xem Niêm Hoa Vi Tiếu). Phật A Di Đà ấn chứng cho Đại Thế Chí là Sơ Tổ của Thiền Tông.
- Để đối kháng lại khuynh hướng của "Mật Tông", thường phân tích chi li và nhận thức sâu sắc các giáo lý Phật giáo, các vị Thiền Sư bèn đặt tên cho tông mình là "Thiền" để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chứng ngộ "Phật Tính" thông qua thực tiễn tu tập và thực chứng, với Mật Tông tôn thờ Tính Dục, thì ngược lại Thiền Tông lại loại bỏ Tính Dục. Do đó mà Thiền Tông phản bác, vứt bỏ những nghi thức rườm rà, những bài luận khó hiểu, bất tận nhưng không phủ nhận nội dung, Tinh Hoa của chúng.
Tâm Duy Tác là gì?
- Khi một bậc Thánh làm việc thiện hay ác Tâm họ là Duy Tác (bao gồm cả má trái và má phải), hành động mang lại lợi ích nhưng không ràng buộc họ trong Luân Hồi (không có "Quả" báo). "Quả" báo chính là "Nguyên Thần" ở chính giữa Tâm Trí của một vị Thánh Nhân (Thánh Nhân tức là đã hóa kiếp hoàn toàn thành A La Hán, trở thành Linh Hồn Bất Tử nhưng vẫn còn là một vị Thánh), để tiếp tục bắt đầu chặng đường tu tập và thiền định đến Bậc Chân Sư Đắc Đạo, Bồ Tát, và trở thành một trong 3 vị Phật (của quá khứ, hiện tại và tương lai).
- Tâm Duy Tác thuộc về Thiền Tông, thường loại bỏ "Tính Dục" ( Desire Nature), tức là trực nhận, trải nghiệm và hòa quyện vào thực tại này giống như một vị Phật. Tâm Duy Tác bao gồm vô số Tâm Thức nhỏ bé của "Thế Giới Tâm Thức", chúng liên kết với nhau và sáng tạo ra sự chân thật của Thực Tại hay Thực Giới, nó chính là khởi nguồn của thế giới KungFu, Võ Thuật, và Nghệ Thuật...etc.
Ví dụ về "Thế Giới Võ Thuật" bởi Tâm Duy Tác:
- Mỗi Thế Võ và mỗi Ngữ Cảnh của Võ Thuật là do Tâm Duy Tác sáng tạo ra và nó trở thành hành động chân thật, như vậy thế giới của Võ Thuật cũng rất dồi dào, đa dạng và phong phú bởi nếu nhận biết "Bản Tâm Chân Thật" của thực tại sẽ sáng tạo ra vô số thế võ, võ công, nội ngoại công, khí công, vũ khí hay binh khí...etc.
- Như vậy một bộ "Phim Về Võ Thuật được sáng tạo ra" thì nó vẫn còn tiếp tục xảy ra ở ngoài thực tại bởi Tâm Duy Tác, và tự nó sẽ tiếp tục sáng tạo ra Thế Võ và Ngữ Cảnh mới của Võ Thuật, Thế Giới Võ Thuật thường đánh lừa Tâm Trí rất tốt, do đó mà nó mang đến sự sáng tạo, hấp dẫn và tính tò mò đối với tất cả chúng sanh.
Dưới đây là các thông tin chi tiết về Tâm Duy Tác:
- Bản chất và Đặc điểm: Tâm Duy Tác hoạt động rỗng lặng, trong sáng, đối đãi với cảnh như đang soi gương, "Làm xong rồi thôi", không tích tụ Nghiệp. Nó khác với Tâm Thiện (tạo quả lành) và Tâm Ác (tạo quả dữ).
- Chủ thể sở hữu: Chỉ có bậc Thánh A-La-Hán mới có đầy đủ các loại Tâm Duy Tác (bao gồm cả Thực Giới và Thiền Tông).
- Phân loại: Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), Tâm Duy Tác được phân loại bao gồm:
- Tâm Duy Tác: Với sự có mặt của Nhân, liên quan đến "Tâm Khai Ngũ Môn, Tâm Khai Ý Môn, và Tâm Cười của bậc Thánh".
- Tâm Thực Giới và Thanh Tịnh: Bao gồm Đại Tâm và vô số Bản Tâm nhỏ bé khác khác liên quan đến Thiền.
7. Tịnh Độ Tông (hay Liên Tông) thuộc chân trái của một Vị Đại Phật Như Lai, nhấn mạnh vào Đức Tin, Nguyện Lực và hành động Niệm Phật, đại diện cho Đại Thừa Phật Giáo bởi:
- Tịnh Độ Tông hay Tâm Thức (Golden Heart), đôi khi nó còn được định nghĩa như Tính Dục (Desire Nature), hay Phật Tính (Buddha Nature), với sự vận hành không ngừng nghỉ của Đại Đạo và Tiểu Đạo thì có một sợi dây vô hình liên kết chúng lại với nhau đó là Tâm Thức Vàng (Zero Tông), hay Ohm, giống như là trung tâm điều khiển phát và thu nhận tính hiệu để vận hành toàn bộ Vũ Trụ. Chính Đức Phật A Di Đà, Ngài đã soi sáng con đường, dẫn dắt và hướng dẫn tất cả chúng sanh thực hành về Tâm Linh, giống như sự thu hẹp và mở rộng liên tục của Tâm Thức Vàng (Zero Tông).
- Đặc tính của Tông này là "Lòng Tin Tuyệt Đối" nơi Phật A Di Đà và sức mạnh cứu độ của Phật, là vị Phật đã thệ nguyện cứu độ mọi chúng sinh quán tưởng đến mình. Vì thế chủ trương Tông Phái này có khi được gọi là "Tín Tâm", thậm chí có người cho là "Dễ Dàng", vì chỉ trông cậy nơi một lực từ bên ngoài (Tha Lực) là Phật A Di Đà.
* Các Điểm Chính Về Tịnh Độ Tông:
- Mục đích: Tu học nhằm vãng sinh về thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà để tiếp tục tu hành thành Phật, thoát khỏi khổ đau cõi Ta Bà.
- Phương pháp tu: "Tín - Nguyện - Hạnh" (Tin có cõi Cực Lạc, Phát nguyện vãng sinh, Niệm Phật).
- Kinh điển: Chuyên tụng ba bộ kinh chính: Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ, và Kinh Quán Vô Lượng Thọ.
- Lịch sử: Do đại sư Huệ Viễn khai sáng tại Trung Quốc. Tông này có 13 vị Tổ sư, trong đó có Thiện Đạo đại sư (đời Đường).
- Phổ biến: Đây là pháp môn rất phổ biến vì dễ tu, dễ chứng, phù hợp với nhiều tầng lớp nhân dân.
- Tịnh Độ Tông không chỉ tập trung vào việc niệm Phật lúc lâm chung mà còn chú trọng tu tập thiện nghiệp, hiếu kính cha mẹ, và giữ tâm thanh tịnh trong đời sống hàng ngày.
8. - Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda) thuộc chân phải của một Vị Đại Phật Như Lai, là truyền thống Phật giáo lâu đời nhất, tập trung vào lời dạy gốc của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, lấy Kinh tạng Nikaya (Pali) làm nền tảng, đại diện cho Đại Thừa Phật Giáo bởi:
Phật Giáo Nguyên Thủy (cõi Phật của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vị Phật của quá khứ), bao gồm 3 giáo lý quan trọng đầu tiên đó là: (Tứ Diệu Đế, Duyên Khởi - Nhân Quả, và Bát Chánh Đạo), cùng với 3 Ấn Pháp là "Vô Thường, Khổ và Vô Ngã".
- Tứ Diệu Đế:
+ Bốn sự thật (khổ, nguyên nhân khổ, diệt khổ, con đường diệt khổ).
- Duyên Khởi - Nhân Quả.
+ Duyên Khởi.
Định nghĩa: Sự khởi sinh của Vạn Pháp dựa trên các điều kiện (Duyên) tương tác.
Nguyên lý: "Cái này có thì cái kia có; Cái này phát sinh, thì cái kia phát sinh...".
Thập nhị nhân duyên: Gồm 12 mắt xích: Chuỗi này bao gồm: (Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão tử), giải thích vòng luân hồi.
+ Nhân Quả.
Nhân: Yếu tố chính (Hạt Giống) tạo ra hành động.
Duyên: Điều kiện phụ hỗ trợ cho nhân phát triển (nước, ánh sáng).
Quả: Kết quả, hậu quả nhận được từ sự kết hợp của Nhân và Duyên.
Ý nghĩa: Nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân về hành vi (nghiệp).
- Và Bát Chánh Đạo.
* Tám yếu tố của Bát Chánh Đạo:
Chánh kiến (Hiểu biết đúng đắn): Nhận thức đúng về sự thật (Tứ Diệu Đế), hiểu rõ luật nhân quả, không tà kiến.
Chánh tư duy (Suy nghĩ đúng đắn): Suy nghĩ hướng thiện, không tham lam, không hận thù, không hại người.
Chánh ngữ (Lời nói đúng đắn): Nói lời trung thực, ôn hòa, không nói dối, không nói lời hai lưỡi, không nói lời thô lỗ.
Chánh nghiệp (Hành động đúng đắn): Tạo hành động thiện (giữ 5 giới), không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.
Chánh mạng (Nghề nghiệp đúng đắn): Nuôi sống bản thân bằng nghề lương thiện, không gây hại cho người và vật.
Chánh tinh tấn (Nỗ lực đúng đắn): Nỗ lực rèn luyện, ngăn chặn điều ác, phát triển điều thiện.
Chánh niệm (Nhớ nghĩ đúng đắn): Giữ tâm tỉnh giác, ghi nhớ và nhận biết rõ ràng mọi việc trong hiện tại.
Chánh định (Tập trung đúng đắn): Rèn luyện tâm tập trung, không xao lãng, hướng đến sự bình an nội tâm.
- Với 3 Ấn Pháp là Vô Thường, Khổ và Vô Ngã.
* Chi tiết về 3 Ấn Pháp (Tam Tướng):
Vô thường: Tất cả các Pháp hữu vi (do duyên khởi) đều trong trạng thái thay đổi không ngừng, sinh sinh diệt diệt, không có gì cố định.
Khổ: Vì Vạn Pháp vô thường nên không thể đem lại hạnh phúc bền vững. Sự trói buộc vào những thứ thay đổi này gây ra bất toại nguyện, đau khổ.
Vô ngã: Mọi sự vật, kể cả con người (thân và tâm), không có cốt lõi, linh hồn hay "cái tôi" độc lập, vĩnh cửu. Chúng chỉ là sự tập hợp của các yếu tố duyên.
9. Đài sen (hay Tòa Sen), và đại diện cho cả hai lòng bàn Chân, chứa đựng cả hai mặt trời: lớn và nhỏ, giống như hai "Bánh Xe Pháp Luân" đang vận hành không ngừng nghỉ.
- Đài sen (hay Tòa Sen) trong nhà Phật là biểu tượng cao quý nhất, đại diện cho sự thanh tịnh, giác ngộ và tâm hồn thoát tục, nơi Đức Phật ngự tọa. Nó tượng trưng cho việc vươn lên từ bùn nhơ (phiền não) mà không bị hôi tanh, thể hiện triết lý sống vô nhiễm, bao dung và sự giác ngộ hoàn hảo, đôi khi Đài sen còn được định nghĩa như là Lỗ Trắng của Vũ Trụ.
- Hoa sen (tiếng Phạn: padma; tiếng Nhật: hasu) trong Phật Giáo là biểu tượng của sự thuần khiết và sinh hóa hồn nhiên (svayambhu). Theo kinh Lalitavistara, phần tâm linh của con người thì vô nhiễm, giống như hoa sen mọc trong bùn mà không bị hôi tanh bởi bùn.
* Ý nghĩa chính của Đài Sen trong nhà Phật:
- Sự Thanh Tịnh và Giác Ngộ: Sen mọc từ bùn nhơ nhưng vươn lên nở hoa rực rỡ, tượng trưng cho quá trình tu tập vượt qua phiền não để đạt đến sự giác ngộ.
- Vị thế tôn nghiêm: Đài sen là tòa ngồi cao quý, thể hiện sự thiêng liêng, trang nghiêm của Phật Pháp.
- Sức sống thuần khiết: Hoa sen trắng tượng trưng cho sự thuần khiết của tâm hồn, sen hồng tượng trưng cho sự cao quý.
- Biểu tượng trong các tích Phật: Đức Phật Thích Ca sơ sinh giẫm lên bảy đóa sen, thể hiện sự vượt thoát khỏi bảy cõi luân hồi.
- Đài sen thường được dùng làm tòa ngồi cho tượng Phật, Bồ Tát trong chùa, hoặc dùng để dâng cúng trên bàn thờ, tạo không gian tâm linh thanh thoát. Nó đại diện cho triết lý "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn", thể hiện tâm hồn thanh cao, không bị ô nhiễm bởi bụi trần.