Poem logo
Poem logo

trung quán tông

Tác giả: Mr.Smile
Trung Quán Tông với "Thuyết Tính Không", đại diện cho Đôi Tai của một Vị Đại Phật Như Lai, là nơi để tìm ra được "Bản Tâm Tuyệt Đối" của phần Thân Tâm, khi đó "Bản Tâm Tuyệt Đối" sẽ cho biết được sự chân thật của "Trí Tuệ Tuyệt Đối của phần Đỉnh Đầu, và Sự Trống Rỗng Tuyệt Đối của Phần Giới Luật". và đại diện cho Đại Thừa Phật Giáo bởi:

- Trung Quán Tông với "Thuyết Tính Không" tức là sự trống rỗng bên trong tất cả Pháp, "Tính Không Bên Trong Lý Thuyết, Học Thuyết" của tất cả hệ thống Ngôn Ngữ. Trong Trung Quán Tông có một ý nghĩa hai mặt:

+ Một mặt "Tính Không" không có một tự ngã nào, trống rỗng hoàn toàn và mặt khác "Tính Không" đồng nghĩa với sự giải thoát tức là giải thoát được "Tính Chân Thật Tuyệt Đối" của mỗi cảnh giới khác nhau. Chứng ngộ được "Tính Không" của phần Thân Tâm, nơi chứa đựng "Bản Tâm Tuyệt Đối" tức là Sự Giải Thoát.

+ Đối với Trung Quán Tông thì "Tính Không" là thể tính cuối cùng, đồng nghĩa với "Pháp Thân" luôn luôn soi sáng, dẫn dắt và chỉ ra con đường đúng đắn, chân thật, hay Chân Lý ở bên trong bản thể của tất cả chúng sanh, liên kết sâu sắc với Trí Tuệ, Giới Luật (bởi ngay tại phần Thân Tâm chia ra làm hai, một liên kết sâu sắc với Trí Tuệ, một liên kết sâu sắc với phần Giới Luật).

- Để nhận biết, đạt được và gặt hái được sự "Chân Thật Tuyệt Đối", muốn đạt được "Bản Thể Tuyệt Đối", người ta phải thấu qua sự "Chân Thật Tương Đối", sự chuyển hóa hai chiều của tất cả 9 Thức (giữa 6 Thức bên ngoài Đại Thể và 3 Thức ở bên trong Đại Thể), đây chính là nguyên lý sáng tạo ra "Thuyết Tương Đối".

- Đời sống của một Hành Giả Trung Quán Tông cũng phải phản ánh quan điểm đó, nghĩa là, đối với bên ngoài Bản Thể của chính mình cũng xem "Tính Không" như là không có một Tự Ngã nào, không có Cái Tôi nào, với sự trống rỗng hoàn toàn, đối với bên trong Bản Thể của chính mình cũng xem như "Tính Không" đồng nghĩa với Sự Giải Thoát, vì "Tính Không" chính là "Bản Thể Tuyệt Đối". Chứng ngộ được "Tính Không" tức là Sự Giải Thoát.

- Trong Trung Quán Tông cho rằng mọi miêu tả về sự vật, sự việc và hiện tượng bằng Pháp hay ngôn từ của tất cả hệ thống Ngôn Ngữ đều không đúng, không đúng với "Sự Thật Tuyệt Đối" của toàn bộ thực tại này đang tồn tại và hiện hữu, mà lúc nào cũng có sự sai lệch giữa quá khứ (Đức Phật Thích Ca Mâu Ni) và tương lai (Đức Phật Di Lặc), Đều này được Đức Phật A Di Đà (Đức Phật của hiện tại) thường xuyên quán xét sự "Chân Thật Tuyệt Đối" ở hiện tại bởi Duy Thức Tông.

- Trung Quán Tông tồn tại, hiện hữu vĩnh hằng trong một trường Suy Nghĩ (Thức A Lại Da), vì tất cả mọi Suy Nghĩ (Thức A Lại Da) dựa lên nhau mà thành (Duyên Khởi), cho nên chúng không tồn tại độc lập, không có Tự Ngã (zh. 我, sa. ātman), Tự Tính (zh. 自性, sa. svabhāva), Trống Rỗng (sa. śūnya).

Suy Nghĩ (Thức A Lại Da) bao gồm tất cả ý thức, là đơn vị nhỏ nhất của Tư Tưởng (Thiên Đạo, Nhân Đạo và Địa Đạo):

+ Thiên Đạo bao gồm những yếu tố: dòng điện, khí (Qi), hạt và chân không.

+ Địa Đạo bao gồm những yếu tố của Ngũ Hành - Bát Quái: kim, mộc, thủy, hỏa và thổ, có mối quan hệ tương sinh tương khắc với nhau.

+ Nhân Đạo hay cốt lõi (Trung Tâm) để tổng hợp, cân bằng và điều hòa cho tất cả yếu tố của Thiên Đạo và Địa Đạo.

Tên gọi của Tông này dựa trên quan điểm quán sát Trung Dung, bởi một trường Suy Nghĩ bao la, huyền bí và vô tận trong toàn bộ thực tại hay thực giới này nói riêng, và trong toàn bộ Vũ Trụ nói chung, được ghi lại trong bài kệ dẫn nhập của Trung luận (sa. madhyamakaśāstra): "Không diệt, không sinh, không đứt đoạn, không thường còn, không là một, không đa dạng, không đến, không đi.
Con tôn xưng Bậc Chính Giác (sa. saṃbuddha), người đã khéo (sa. śiva) dạy lý duyên khởi, sự an tĩnh các thiên hình vạn trạng (sa. prapañcopaśama), là "Vị Thầy Giỏi Nhất" trong các vị Thầy".

- Trung Quán Tông được chia làm hai bộ phái nhỏ:

1. Trung Quán Y Tự Khới do Thanh Biện khai sáng cho rằng Pháp Giới có tự tính một cách tục đế.

2. Trung Quán Ứng Thành hay Quy Mậu Biện Chứng phái do Thánh Thiên, Phật Hộ, Nguyệt Xứng, và Tịch Thiên chủ trương. Họ cho rằng Pháp Giới và Tâm Giới trong cả tục đế lẫn chân đế đều không có tự tính.

- Phật Giáo định nghĩa tất cả Chúng Sanh đều thuộc về 10 Thức: Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, Trực Giác, {Thức Thứ 0 (Zero)}, Nghiệp (Thức Mạt Na), Suy Nghĩ (Thức A Lại Da), và Chủng Tử.

- Với 3 Thức ở bên trong Đại Thể: Nghiệp (chứa đựng tất cả kiếp sống), Suy Nghĩ bao gồm tất cả ý thức, là đơn vị nhỏ nhất của Tư Tưởng (Thiên Đạo, Nhân Đạo và Địa Đạo), và Chủng Tử (thuộc Đại Nhân), (Ánh sáng xanh Thuần Khiết, Thanh Tịnh và Tinh Hoa).

- Và 6 Thức ở bên ngoài Đại Thể: Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, và Trực Giác.

- Thức Thứ 0 (Zero) được xem là Tâm Thức (Golden Heart), đôi khi nó còn được định nghĩa như Tính Dục (Desire Nature), hay Phật Tính (Buddha Nature), Thức Thứ 0 (Zero) ở giữa 6 Thức bên ngoài Đại Thể và 3 Thức ở bên trong Đại Thể: Thức Thứ 0 (Zero) cũng có hai chiều mở rộng và thu hẹp khác nhau, đặc biệt là tìm ra được "Bản Tâm Tuyệt Đối" là nơi tái sinh, luân hồi và xuất hiện của tất cả Bồ Tát và Chư Phật.

Ý kiến bạn đọc

TÌM KIẾM BÀI THƠ
Nhập từ khóa:
Tìm kiếm