Poem logo
Poem logo

thương tiếc

Tác giả: Lê Huy Trứ
Trên đồi gió, tượng người lính u buồn,
Xưa gác giặc tổ khinh binh, tiền sát.
Một thời máu hòa bão bom, pháo lửa,
Giờ chỉ còn hồn vọng giữa trời cao.
Đất nước cũ, tổ quốc từng réo gọi,
Tiếng quân ca còn vọng đến hôm nay.
Giày ‘Saut’ áo trận bạc khói sương phai,
Hồn vất vưỡng bơ vơ trong giá lạnh.
Tiếc thương, cảm khái hồn chùng theo gió,
Dáng anh buồn – thấy cả một trời đau.
Đây Biên Hòa, khóc miền Nam thổn thức,
Trông tượng đồng trông thấy cả hồn linh.

TRƯỜNG CA “THƯƠNG TIẾC”
(Khảm khái cho tượng Thương Tiếc – Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, Sài Gòn)
PHẨM I — ĐẤT NƯỚC
Trời Biên Hòa còn vương khói sương lam,
Đồi nghĩa trang lặng nghe hồn sông núi.
Một thời máu hòa trong mưa gió nổi,
Bảo quốc, an dân nhiệm vụ Nam quân.
Cờ vàng xưa ngạo nghễ giữa trời Nam,
Nơi sa trường, giữa lời thề danh dự.
Tổ quốc ấy – không chỉ là đất nước,
Cộng hòa linh hồn chiến sĩ trận vong
Dấu binh lửa Cộng Hòa Việt Nam cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh lòng đau.
Ngọn cỏ rào, mà tưởng đâu tiếng gọi,
Bao linh hồn vẫn đứng gác nơi đây.

PHẨM II — NGƯỜI LÍNH
Tượng đồng kia – dáng người lính cúi đầu,
Không khuất phục, chỉ lặng im mà nhớ.
Một thời áo trận, một thời gió lửa,
Một thời thanh xuân gửi lại chiến trường.
Anh đã sống như ngọn đuốc trong đêm,
Cháy hết mình cho danh dự miền Nam.
Khi đất nước nghiêng ngửa, anh vẫn đứng,
Giữ lời thề, giữ phẩm giá, anh linh.
Ai biết anh nghĩ gì trong phút cuối,
Chỉ thấy trời nghiêng, gió thổi qua vai.
Tượng đồng kia, dường như anh còn thở,
Việt Nam Cộng Hòa anh hào nghĩa trung.

PHẨM III — LINH HỒN
Giờ đây, anh hóa thành mây trắng bay,
Bay trên đồi, bay qua những hàng cây.
Hồn anh hòa cùng đất nước mến yêu,
Không còn biên giới bất phân sinh tử
Lữ hành dừng bước giang hồ đó đây,
Đỉnh gió hú hay lời kinh cầu nguyện.
Thấy tượng đồng thấy cả linh hồn anh,
Đây Biên Hòa, hồn Nam quân thổn thức.
Một thời đã qua, một trời để nhớ,
Tượng đồng kia hằng đêm đã hiển linh.
Nhảy Dù cố gắng – hiện hồn "tìm nước,”
Như lời nguyền "tìm lại nước” Nam xưa.

TIẾNG KÈN CUỐI
(đoạn kết thiêng – khảm vào trường ca “Thương Tiếc”)

Kèn chiều vang ảm đạm trên đồi gió,
Âm ngân xuống từng mộ chí vô danh.
Tiếng kèn buồn gọi linh hồn trở dậy,
Như nhắn nhủ: “Chúng ta vẫn còn đây.”
Khói hương bay, chạm vào bia mộ đá,
Hồn không nói, nhưng đất trời lặng nghe.
Nghĩa Trang Quân Đội – giờ không nhang khói,
Tiếc thương chiến sĩ vị quốc trận vong.
Hồi kèn cuối – không phải để khép lại,
Để dẫn đường cho tử sĩ siêu thăng.
Để cho tổ quốc tri ân chiến sĩ,
Để người đã khuất đứng dậy hiên ngang.
Nam quốc sơn hà vọng tiếng quân ca,
Dù thời gian xóa nhòa bao kỷ niệm.
Nhưng tiếng kèn đó vẫn còn đâu đây.

LỜI NGUYỆN TRÊN ĐỒI GIÓ
(câu chú đọc khẽ trước tượng Thương Tiếc)

Hởi những anh linh trong Nghĩa Trang Quân Đội xin về đây chứng dám:
“Cầu cho những linh hồn đã nằm xuống được an nhiên trong trời Nam,
Cầu cho danh dự họ sáng mãi như ngọn lửa không tắt.”
Một lời nguyện nhỏ, nhưng đủ để trời đất lắng nghe.

Ghi Chú:

Tiếc Thương – phỏng vấn Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu, do Lê Xuân Trường thực hiện – Thanh Thúy

https://thanhthuy.me/2014/06/20/tiec-thuong-phong-van-dieu-khac-gia-nguyen-thanh-thu-do-le-xuan-truong-thuc-hien/

Tiếc Thương – phỏng vấn Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu, do Lê Xuân Trường thực hiện
Hỏi: Anh Võ Văn Hai lúc đó ở binh chủng Nhảy Dù?
ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ, Nhảy Dù, hạ sĩ.
Lâu lắm rồi tôi đọc đâu đó bức tượng Tiếc Thương của Điêu Khắc Gia NGUYỄN THANH THU, lấy người mẫu là anh lính Biệt Động Quân.
Tình cờ đọc được bài phỏng vấn Đại Úy Điêu Khắc Gia NGUYỄN THANH THU của Lê Xuân Trường, té ra người mẫu của bức tượng Tiếc Thương là Hạ Sĩ Nhảy Dù Võ Văn Hai – anh còn trên đời này, hay hồn anh còn xông pha nơi đồi cao, núi thẳm?
Tôi xin sửa đổi lại một vài chi tiết của bài thơ Thương Tiếc, cho phù hợp với sự thật lịch sử.
Tôi cũng được anh Phan Nhật Nam cho biết, “Trước ngày ra khỏi nước, 5/11/1993 tôi ở Nghĩa Trang Quân Đội (Trước doanh trại Lữ Đoàn 2 ND của tôi) đêm Giáng Sinh 12/1992. NỖI ĐAU NẦY LỚN LẮM.”
Đúng vậy, không ai biết nổi đau đó lớn như thế nào, ngoài những người đã từng kinh nghiệm và trải qua như anh ta. Một quân nhân Nhảy Dù lúc còn trai tráng thì đóng tại Nghĩa Trang Quân Đội, Biên Hòa, lúc sa cơ thất thế cũng trở về tạm trú ẩn tại Nghĩa Trang Quân Đội cho đến ngày “Sinh ký, tử quy” (生寄,死歸).
Sinh là từ cửa tử vào.
Chết là trở về cửa tử.

Sinh tình nguyện vào lính Nhảy Dù, lính tác chiến, là vào cử tử.
Chết là trở về cửa tử vĩnh viễn – Nghĩa Trang Quân Đội – ‘ảo’ trên cùng thế giới.
Tuy nhiên theo tư tưởng của Phật Giáo:
Sinh là trú xứ của thức; tử là quy hồi của thức.
Không có đến – không có đi.
Bài thơ Thương Tiếc được hiệu đích lại cho thích hợp với sự thật lịch sử:
Tượng đồng kia hằng đêm đã hiển linh.
“Nhảy Dù cố gắng – hiện hồn "tìm nước,”
Như lời nguyền "tìm lại nước” Nam xưa.”
Nay kính,
Lê Huy Trứ
TÌM KIẾM BÀI THƠ
Nhập từ khóa:
Tìm kiếm