duy thức tông (học) là gì?
Duy Thức Tông (Học) là gì?
Duy Thức Học thuộc 1 trong 6 bộ Kinh Đại Thừa quan trọng nhất của Phật Giáo, chẳng hạn như:
- Đức Phật Di Lặc (Đức Phật của tương lai) tái sinh và luân hồi trong Duy Thức Tông và Trung Quán Tông. (Pháp của phần Trí Tuệ).
1. Duy Thức Tông bàn luận về Trí Tuệ Tuyệt Đối, khẳng định "Vạn Pháp Duy Thức" và Thuyết Phật Tính : Duy Thức Học có nghĩa là tất cả chúng sanh vẫn đang duy trì công việc học hỏi không ngừng ( Học, học nữa và học mãi) về 9 Thức vẫn đang vận hành không ngừng nghỉ ở thực tại này. Phật Giáo định nghĩa tất cả Chúng Sanh đều thuộc về 9 Thức: Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, Trực Giác, Nghiệp, Suy Nghĩ, và Chủng Tử. Với 3 Thức ở bên trong Đại Thể: Nghiệp (bao gồm tất cả nguồn năng lượng, tần số và sự rung động hay chứa đựng tất cả kiếp sống), Suy Nghĩ bao gồm tất cả ý thức, là (đơn vị nhỏ nhất của Tư Tưởng (Thiên Đạo, Nhân Đạo và Địa Đạo), và Chủng Tử (thuộc Đại Nhân), (Ánh sáng xanh Thuần Khiết và Thanh Tịnh, Tinh Hoa). Và 6 Thức ở bên ngoài Đại Thể: Thị Giác, Thính Giác, Vị Giác, Khứu Giác, Xúc Giác, và Trực Giác.
2. Trung Quán Tông với "Thuyết Tính Không". Trong Trung Quán Tông có một ý nghĩa hai mặt: một mặt "Tính Không" không có một tự ngã nào, trống rỗng hoàn toàn và mặt khác "Tính Không" đồng nghĩa với sự giải thoát tức là sự hiểu biết, nhận biết và giải thoát được tính chân thật tuyệt đối của mỗi cảnh giới khác nhau. Chứng ngộ được "Tính Không" của phần Thân Tâm, nơi chứa đựng Tâm Thức Tuyệt Đối tức là giải thoát. Đối với Trung Quán Tông thì "Tính Không" là thể tính cuối cùng, đồng nghĩa với "Pháp Thân" luôn luôn soi sáng, dẫn dắt và chỉ ra con đường đúng đắn, chân thật, hay Chân Lý ở bên trong bản thể của tất cả chúng sanh, liên kết sâu sắc với Trí Tuệ (bởi ngay tại phần Thân Tâm chia ra làm hai, một liên kết sâu sắc với Trí Tuệ, một liên kết sâu sắc với phần Giới Luật).
- Đức Phật A Di Đà (Đức Phật của hiện tại), Ngài được xem là Vua của tất cả Chư Phật là vị Vua cuối cùng, tái sinh và luân hồi trong Mật Tông, Thiền Tông và Tịnh Độ Tông. (Pháp của phần Thân Tâm).
3. Mật Tông với truyền thống Kim Cương Thừa chú trọng sử dụng Chân Ngôn và Phật Quả. "Chân Ngôn Thừa" tức là sự thật, chân lý tuyệt đối ở bên trong Pháp, hay ngôn từ của tất cả loại Ngôn Ngữ trên thế giới hiện nay, (Ngày nay với hơn 7111 ngôn ngữ đang vận hành trên thế giới cùng với vô số ngôn ngữ lập trình khác), (Nó chú trọng vào thế giới của Học Thuật, Vũ Trụ Học, Khoa Học và Ứng Dụng...etc). Kinh nghiệm của Mật Tông là tôn thờ Tính Dục.
4. Thiền Tông thông qua kinh nghiệm, trải nghiệm trực tiếp từ thực tại này, với mục đích là Hành Giả trực nhận được bản thể chân thật tuyệt đối của con người và tất cả vạn vật cũng như nhận biết được "Tính Không" của toàn bộ Vũ Trụ này và đạt Giác Ngộ, như Phật. Từ đó, Thiền Tông coi trọng tính chất Đốn Ngộ (頓悟), nghĩa là "Giác Ngộ Ngay Tức Khắc", trên con đường tu học, thấu suốt bản tâm thanh tịnh của chính mình (Nó cũng tương tự như hình thức tu luyện của KungFu, võ thuật và nghệ thuật...etc). Kinh nghiệm của Thiền Tông, tức là loại bỏ Tính Dục
5. Tịnh Độ Tông chú trọng về Tính Không hay sự tuyệt đối của Tâm Thức Vàng, nhận biết trong từng khoảnh khắc, quán xét liên tục, tiếp tục con đường tu tập và thiền định cũng như học tập và nghiên cứu để soi sáng, dẫn dắt và hướng dẫn tất cả chúng sanh về Tâm Linh.
- Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Đức Phật của quá khứ) tái sinh và luân hồi trong thời kỳ Đức Phật Nguyên Thủy (Tứ Diệu Đế, Duyên Khởi, Nhân Quả và Bát Chánh Đạo). (Pháp của phần Giới Luật).
6. Và thời kỳ "Phật Giáo Nguyên Thủy" của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc tại thế và lúc sống tại cõi Niết Bàn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Đức phật của Quá Khứ). Ngài chính là hóa thân của hai vị Bồ Tát Nam: A Nan Đà và MaHaCa Diếp cùng với các Chư Phật và Bồ Tát (đệ tử của ngài). Ba Bộ Kinh đầu tiên, là cội nguồn và khởi tạo ra, sáng tạo ra Phật Giáo lần đầu tiên giống như :
1. Tứ Diệu Đế.
2. Duyên Khởi, Nhân Quả.
3. Và Bát Chánh Đạo.
Chú thích:
Thiên Đạo bao gồm những yếu tố: dòng điện, khí (Qi), hạt và chân không.
Địa Đạo bao gồm những yếu tố của Ngũ Hành - Bát Quái: kim, mộc, thủy, hỏa và thổ, có mối quan hệ tương sinh tương khắc với nhau.
Chủng Tử (Nhân) để tổng hợp, cân bằng và điều hòa cho tất cả yếu tố của Thiên Đạo và Địa Đạo.